Đàn Na

《檀那》 tán nà

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s, Pāli: dāna: còn gọi là Đà Na () Đán Na (), Đà Nẵng (), Đàn (); ý dịch là thí (, cho, ban phát), Bố Thí (), tức lấy tâm từ bi mà ban phát phước lợi cho tha nhân; cả Phạn Hán cùng gọi là Đàn Thí (), Đàn Tín (). Những Tín Đồ cúng dường y thực cho Tăng Chúng, hay xuất tiền tài để tiến Hành Pháp hội, tu hạnh Bố Thí được gọi là Thí Chủ (Sanskrit: dānapati, ); âm dịch là Đàn Việt (), Đà Na Bát Để (), Đàn Na Ba Để (), Đà Na Bà (); cả Phạn Hán đều gọi chung là Đàn Việt Thí Chủ (), Đàn Na Chủ (), Đàn Chủ (). Trong Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập () quyển 1 có giải thích rằng: “Đàn Na hựu xưng Đàn Việt; Đàn tức thí; thử nhân hành thí, việt Bần Cùng Hải, cố xưng Đàn Việt; tâm sanh xả pháp, Năng Phá Xan Tham, thị vi Đàn Na (, Đàn Na còn gọi là Đàn Việt; Đàn tức là Bố Thí; người này hành Bố Thí, vượt qua biển bần cùng; nên gọi là Đàn Việt; tâm sanh khởi pháp xả bỏ, có thể phá tan sự tham lam, keo kiệt, đó là Đàn Na).” Theo Thiện Sanh Kinh () của Trường A Hàm () quyển 11 có đoạn rằng: “Đàn Việt đương dĩ Ngũ Sự cung phụng Sa Môn, Bà La Môn. Vân hà vi ngũ ? Nhất giả thân hành từ, Nhị Giả khẩu hành từ, tam giả ý hành từ, tứ giả dĩ thời thí, ngũ giả môn bất chế chỉ. Thiện Sanh, nhược Đàn Việt dĩ thử Ngũ Sự cung phụng Sa Môn, Bà La Môn; Sa Môn, Bà La Môn đương phục dĩ lục sự nhi Giáo Thọ chi. Vân hà vi lục ? Nhất giả phòng hộ bất linh vi ác, Nhị Giả chỉ thọ thiện xứ, tam giả giáo hoài Thiện Tâm, tứ giả sử vị văn giả văn, ngũ giả dĩ văn năng sử thiện giải, lục giải khai thị thiên lộ (使使, Thí Chủ nên lấy năm việc để cung phụng Sa Môn, Bà La Môn. Thế nào là năm ? Một là thân hành từ bi, hai là miệng hành từ bi, ba là ý hành từ bi, bốn là cúng dường đúng thời, năm là cổng không đóng dừng. Này Thiện Sanh ! Nếu Thí Chủ lấy năm việc trên để cung phụng Sa Môn, Bà La Môn; Sa Môn, Bà La Môn phải lấy sáu việc để giáo hóa lại cho họ. Thế nào là sáu ? Một là phòng ngừa, bảo hộ không khiến cho làm điều ác; hai là chỉ bày, truyền trao nơi tốt lành; ba là dạy họ luôn nhớ tâm lành; bốn là khiến cho người chưa nghe được nghe; năm là người được nghe có thể khiến cho khéo hiểu rõ; sáu là khai thị rõ đường lên trời).” Lại theo Tăng Nhất A Hàm Kinh (, Taishō No. 125) quyển 24 cho biết rằng vị Thí Chủ Đàn Việt tùy thời mà Bố Thí, cúng dường thì sẽ có 5 Công Đức: (1) Tiếng tăm vang khắp bốn phương và mọi người đều hoan hỷ, vui mừng; (2) Nếu sanh làm thân Chúng Sanh, không mang tâm xấu hổ và cũng không có sự sợ hãi; (3) Được mọi người kính ngưỡng, người thấy cũng sanh tâm hoan hỷ; (4) Sau khi mạng hết, hoặc sanh lên cõi Trời, được chư Thiên Cung kính; nếu sanh trong cõi người, cũng được người tôn quý; (5) Trí tuệ xuất chúng, thân hiện đời hết lậu hoặc, chẳng trãi qua đời sau. Món cháo do Thí Chủ cúng dường cho đại chúng được gọi là Đàn Na Chúc (). Như trong Oánh Sơn Thanh Quy () quyển Thượng, phần Nguyệt Trung Hành Sự () của Oánh Sơn Thiệu Cẩn (, Keizan Jōkin, 1268-1325), Tổ Khai Sơn Tổng Trì Tự (, Sōji-ji) ở vùng Năng Đăng (, Noto), có câu: “Đàn Na Chúc, thán kệ như tiền, kim thần tịnh chúc nhất đường, phụng vị bổn tự Đàn Na Thập Phương Thí Chủ phước thọ Trang Nghiêm, ngưỡng bằng tôn chúng niệm (, Cháo Đàn Na, kệ Tán Thán như trước, hôm nay cháo chay một nhà, kính vì cầu chúc Đàn Na chùa này, Thí Chủ mười phương được phước thọ Trang Nghiêm, ngưỡng mong đại chúng tưởng niệm).” Đặc biệt, tại Nhật Bản, ngôi chùa sở thuộc nhà Đàn Việt được gọi là Đàn Na Tự (, Danna-dera) hay Đán Na Tự (, Danna-dera); hay còn có nghĩa là ngôi chùa ban pháp cho bản thân mình, hoặc là ngôi chùa do mình cúng dường và duy trì. Từ này xuất hiện trong khoảng thời gian niên hiệu Khoan Vĩnh (, 1624-1644), khi tiến hành đàn áp Thiên Chúa Giáo. Đàn Na Tự còn gọi với tên khác là Bồ Đề Tự (), Hương Hoa Viện ().