Đàn Lâm

《檀林》 tán lín

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

danrin: Nguyên Lai, nó là từ gọi tắt của Chiên Đàn Lâm (), nơi chúng tăng hòa hợp, tập trung tu hành; thường chỉ cho tự viện; cho nên nó cũng là tên gọi khác của tự viện Phật Giáo. Về sau, nó trở thành cơ sở học vấn của Phật Giáo, vì tính chất cũng như Cơ Năng của nó giống như Học Lâm (), Học Liêu (). Tại Nhật Bản, Đàn Lâm Viện () được xây dựng vào năm thứ 3 (853) niên hiệu Nhân Thọ () được xem như là tiền thân đầu tiên của Đàn Lâm. Đến thời đại Đức Xuyên (, Tokugawa), các Tông Phái bắt đầu thiết kế những cơ sở học vấn Đàn Lâm và Quan Đông Thập Bát Đàn Lâm (, 18 cơ sở học vấn Đàn Lâm ở vùng Quan Đông) là tiêu biểu, nổi tiếng nhất. Riêng Tào Động Tông, trong khuôn viên của Cát Tường Tự (, Kichijō-ji) ở Giang Hộ (, Edo)Chiên Đàn Lâm với rất nhiều Tăng Chúng đến Tham Học. Tương truyền đến năm thứ 3 (1774) niên hiệu Khoan Vĩnh (), nơi đây có đến 641 người. Khoảng vào năm đầu (1624) niên hiệu Khoan Vĩnh, Quan Đông Thập Bát Đàn Lâm được thành lập, nhưng người hình thành hệ thống là Nguyên Dự Tồn Ứng (, Genyō Zonō, 1544-1620), vị tổ đời thứ 12 của Tăng Thượng Tự (, Zōjō-ji). Đây là 18 ngôi tự viện có cơ cấu giáo dục cho tăng sĩ của Tịnh Độ Tông Nhật Bản, gồm: (1) Quang Minh Tự (, Kōmyō-ji) ở vùng Liêm Thương (, Kamakura, thuộc Kanagawa-ken []); (2) Thắng Nguyện Tự (, Shōgan-ji) ở Hồng Sào (, Konosu, thuộc Saitama-ken []); (3) Thường Phước Tự (, Jōfuku-ji) ở Qua Liên (, Urizura, thuộc Ibaraki-ken []); (4) Tăng Thượng Tự (, Zōjō-ji) ở Đông Kinh (, Tokyo); (5) Hoằng Kinh Tự (, Gukyō-ji) ở Phạn Chiểu (, Iinuma, thuộc Ibaraki-ken); (6) Đông Tiệm Tự (, Tōzen-ji) ở Tùng Hộ (, Maddo, thuộc Chiba-ken []); (7) Đại Nham Tự (, Daigan-ji)Thiên Diệp (, Chiba, thuộc Chiba-ken); (8) Liên Hinh Tự (, Renkei-ji) ở Xuyên Việt (, Kawagoe, thuộc Saitama-ken); (9) Đại Thiện Tự (, Daizen-ji)Bát Vương Tử (, Hachiōji, thuộc Tokyo); (10) Tịnh Quốc Tự (, Jōkoku-ji) ở Nham Quy (, Iwatsuki, thuộc Saitama-ken); (11) Đại Niệm Tự (, Dainen-ji) ở Đạo Phu (, Inashiki, thuộc Ibaraki-ken); (12) Thiện Đạo Tự (, Zendō-ji) ở Quán Lâm (, Tatebayashi, thuộc Gunma-ken []); (13) Hoằng Kinh Tự (, Gukyō-ji) ở Thường Tổng (, Jōsō, thuộc Ibaraki-ken); (14) Linh Sơn Tự (, Reizan-ji) ở Mặc Điền (, Sumida, thuộc Tokyo); (15) Phan Tùy Viện (, Banzui-in) ở Tiểu Kim Tỉnh (, Koganei, thuộc Tokyo); (16) Truyền Thông Viện (, Denzū-in) ở Văn Kinh (, Bunkyō, thuộc Tokyo); (17) Đại Quang Viện (, Daikō-in) ở Thái Đa (, Ōta, thuộc Gunma-ken); (18) Linh Nham Tự (, Reigan-ji) ở Thâm Xuyên (, Fukagawa, thuộc Tokyo). Trong Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Nghi () có câu: “Chiên Đàn Lâm nội lục thù giá trọng ư Ta Bà, Cấp Cô Viên trung nhất chú thông tân ư Linh Thứu, cổ chế bàn toàn thanh thoại khí, ngọc lô liêu nhiễu bích tường vân, ngã kim nhiệt xử hiến Như Lai, duy nguyện từ bi ai nạp thọ (, trong Chiên Đàn Lâm sáu cây giá nặng bằng Ta Bà, nơi Vườn Cấp Cô một nén hương xông tận Linh Thứu, sao xưa xoay chuyển trong lành khí, lò ngọc tỏa vờn mây xanh thiêng, con nay đốt lên cúng Như Lai, cúi mong từ bi thương lãnh thọ).” Hay trong Chứng Đạo Ca () của Vĩnh Gia Huyền Giác (, 675-713) cũng có câu: “Chiên Đàn Lâm vô tạp thọ, uất mật sum trầm sư tử trú, cảnh tĩnh lâm nhàn độc tự du, tẩu thú phi cầm giai viễn khứ (, Chiên Đàn Lâm chẳng cây tạp, rừng rậm thâm u sư tử sống, cảnh vắng non nhàn mặc ngao du, thú chạy chim bay đều xa lánh).”