Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Kí
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Gồm 3 quyển, do ngài Pháp Tạng soạn vào đời Đường. Cũng gọi Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ, Khởi tín Luận Nghĩa kí, Tạng sớ, Hiền thủ sớ, thu vào Đại chính tạng tập 44. Là một trong 3 bộ sớ lớn của luận Đại Thừa khởi tín. Sách này đứng trên lập trường của tông Hoa nghiêm mà chú Thích Luận Đại Thừa khởi tín. Nội dung chia làm 10 môn:
1. Giáo khởi sở nhân (Lí do Lập Giáo).
2. Chư tạng sở nhiếp (Được thu nhiếp vào tạng nào).
3. Hiển giáo Phân Tề (Hiển bày phạm vi của giáo).
4. Giáo Sở Bị cơ (Những Căn Cơ được giáo thu nhiếp).
5. Năng Thuyên giáo thể (Giáo thể giải thuyết rõ ràng).
6. Sở Thuyên tông thú (Tông thú được giảng giải rõ ràng).
7. Thích Luận Đề Mục (Giải thích tên của bộ luận).
8. Tạo luận thời tiết (Tạo luận vào thời gian nào).
9. Phiên Dịch niên đại (Luận được Phiên Dịch vào năm nào).
10. Tùy văn giải thích Giải thích chính văn). Trong Hiển giáo Phân Tề, trước hết thuật về 3 thời phán giáo từ ngài Tam Tạng Nhật chiếu truyền đến các ngài Giới hiền và Trí Quang, kế đến bàn tổng quát về các kinh, luận Đại Thừa, Tiểu Thừa truyền vào Trung Quốc và chia làm 4 tông:
1. Tông Tùy tướng Pháp Chấp, gồm các kinh Tiểu Thừa.
2. Tông Chân Không Vô Tướng, gồm kinh Bát Nhã, luận Trung quán.
3. Tông Duy Thức pháp tướng, gồm kinh Thâm mật, luận Du Già v.v...
4. Tông Như Lai Duyên Khởi, gồm kinh Lăng già, kinh Mật nghiêm, luận Bảo tính, luận Khởi tín v.v... Sách này không dùng Ngũ Giáo Phán của tông Hoa nghiêm mà lập ra Tứ giáo và phối hợp luận Khởi tín với tông Như Lai Duyên Khởi: Đây là điểm sai khác rất lớn với ý thú xưa nay. Ngoài ra, sách này lại cho rằng thức A Lê Da trong luận Khởi tín tức là thức A lại da của các nhà Duy Thức, lại phối hợp Nghiệp tướng, Năng Kiến Tướng và Cảnh giới tướng trong Tam Tế với Tự thể phần, Kiến Phần và Tướng phần, còn Lục thô thì từ Trí tướng trở xuống thông với thức thứ 6, đồng thời, cho rằng luận Khởi tín chỉ nêu thức thứ 6 và thức thứ 8 chứ chưa bàn đến thức thứ
7. Những điều nói trên đều là đặc sắc của sách này, mà các bản chú sớ khác về luận Khởi tín chưa bì kịp. Bản sớ này cùng với hai bản sớ của ngài Tuệ viễn và Nguyên Hiểu được gọi chung là ba bộ sớ lớn của luận Khởi tín, nhưng bản sớ này được lưu hành rộng rãi hơn cả. Sách này vốn có 3 quyển, phần chính văn có bản riêng; về sau, ngài Tông mật đời Đường hợp chung sớ và chính văn làm một rồi xuất bản, nhưng lược bớt khá nhiều văn sớ của sách này. Từ đời Tống về sau, phần nhiều người ta chú trọng bản sớ của ngài Tông mật chứ không biết có bản sớ này. Sau, ngài Phụng Đàm người Nhật khảo đính lại bản sớ này rồi hợp chung với phần chính văn thành bộ 5 quyển, lưu hành rất thịnh. Đời Thanh, Dương Văn Hội cảm thấy sách này bị cắt xén, mới tìm lại bản cũ, đối chiếu, sửa chữa rồi ấn hành thành 7 quyển rất được Học Giới xem trọng. Sách này có nhiều bản chú sớ, nhưng quan trọng hơn cả là: Khởi tín luận sớ 4 quyển của ngài Tông mật, Giáo lí sao 19 quyển của ngài Trạm duệ, Giảng nghĩa 3 quyển của ngài Tuệ trừng, Khởi tín luận huyễn hổ lục 5 quyển của ngài Phụng Đàm, Yếu quyết 3 quyển của ngài Phổ giới. [X. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q. 1.; Đường thư nghệ văn chí thứ 49; Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục Q. 3.; Đại Thừa Khởi Tín Luận chi nghiên cứu].
1. Giáo khởi sở nhân (Lí do Lập Giáo).
2. Chư tạng sở nhiếp (Được thu nhiếp vào tạng nào).
3. Hiển giáo Phân Tề (Hiển bày phạm vi của giáo).
4. Giáo Sở Bị cơ (Những Căn Cơ được giáo thu nhiếp).
5. Năng Thuyên giáo thể (Giáo thể giải thuyết rõ ràng).
6. Sở Thuyên tông thú (Tông thú được giảng giải rõ ràng).
7. Thích Luận Đề Mục (Giải thích tên của bộ luận).
8. Tạo luận thời tiết (Tạo luận vào thời gian nào).
9. Phiên Dịch niên đại (Luận được Phiên Dịch vào năm nào).
10. Tùy văn giải thích Giải thích chính văn). Trong Hiển giáo Phân Tề, trước hết thuật về 3 thời phán giáo từ ngài Tam Tạng Nhật chiếu truyền đến các ngài Giới hiền và Trí Quang, kế đến bàn tổng quát về các kinh, luận Đại Thừa, Tiểu Thừa truyền vào Trung Quốc và chia làm 4 tông:
1. Tông Tùy tướng Pháp Chấp, gồm các kinh Tiểu Thừa.
2. Tông Chân Không Vô Tướng, gồm kinh Bát Nhã, luận Trung quán.
3. Tông Duy Thức pháp tướng, gồm kinh Thâm mật, luận Du Già v.v...
4. Tông Như Lai Duyên Khởi, gồm kinh Lăng già, kinh Mật nghiêm, luận Bảo tính, luận Khởi tín v.v... Sách này không dùng Ngũ Giáo Phán của tông Hoa nghiêm mà lập ra Tứ giáo và phối hợp luận Khởi tín với tông Như Lai Duyên Khởi: Đây là điểm sai khác rất lớn với ý thú xưa nay. Ngoài ra, sách này lại cho rằng thức A Lê Da trong luận Khởi tín tức là thức A lại da của các nhà Duy Thức, lại phối hợp Nghiệp tướng, Năng Kiến Tướng và Cảnh giới tướng trong Tam Tế với Tự thể phần, Kiến Phần và Tướng phần, còn Lục thô thì từ Trí tướng trở xuống thông với thức thứ 6, đồng thời, cho rằng luận Khởi tín chỉ nêu thức thứ 6 và thức thứ 8 chứ chưa bàn đến thức thứ
7. Những điều nói trên đều là đặc sắc của sách này, mà các bản chú sớ khác về luận Khởi tín chưa bì kịp. Bản sớ này cùng với hai bản sớ của ngài Tuệ viễn và Nguyên Hiểu được gọi chung là ba bộ sớ lớn của luận Khởi tín, nhưng bản sớ này được lưu hành rộng rãi hơn cả. Sách này vốn có 3 quyển, phần chính văn có bản riêng; về sau, ngài Tông mật đời Đường hợp chung sớ và chính văn làm một rồi xuất bản, nhưng lược bớt khá nhiều văn sớ của sách này. Từ đời Tống về sau, phần nhiều người ta chú trọng bản sớ của ngài Tông mật chứ không biết có bản sớ này. Sau, ngài Phụng Đàm người Nhật khảo đính lại bản sớ này rồi hợp chung với phần chính văn thành bộ 5 quyển, lưu hành rất thịnh. Đời Thanh, Dương Văn Hội cảm thấy sách này bị cắt xén, mới tìm lại bản cũ, đối chiếu, sửa chữa rồi ấn hành thành 7 quyển rất được Học Giới xem trọng. Sách này có nhiều bản chú sớ, nhưng quan trọng hơn cả là: Khởi tín luận sớ 4 quyển của ngài Tông mật, Giáo lí sao 19 quyển của ngài Trạm duệ, Giảng nghĩa 3 quyển của ngài Tuệ trừng, Khởi tín luận huyễn hổ lục 5 quyển của ngài Phụng Đàm, Yếu quyết 3 quyển của ngài Phổ giới. [X. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q. 1.; Đường thư nghệ văn chí thứ 49; Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục Q. 3.; Đại Thừa Khởi Tín Luận chi nghiên cứu].