Đại Doanh

《大瀛》 dà yíng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Daiei, 1760-1804: Học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; húy là Đại Doanh (), Quách Lượng (); tên lúc nhỏ là Ki Chi Tấn (), Thị Đại (); tự là Tử Dung (); Thụy Hiệu Chơn Thật Viện (), hiệu là Nhưng Viên (), Thiên Thành (), Kim Cang Am (), Thoại Hoa (), Tịch Nhẫn (), Bảo Chơn (), Lãng Nhiên (), Viên Hải (), Bảo Lương (); xuất thân Trung Đồng Hạ (, Nagatsutsuga), An Nghệ (, Aki, thuộc Hiroshima []); con trai thứ 3 của Lâm Dưỡng Triết (). Ông theo hầu Tuệ Vân () ở Báo Chuyên Phường (), vùng An Nghệ, tu học giáo thuyết Chơn Tông và kiêm học cả Ngoại Điển. Sau ông từ bỏ việc Thế Tục, chuyển đến trú tại Thắng Viên Tự () ở trong vùng, mở trường Tư Thục ở vùng Quảng Đảo (, Hiroshima) và tận lực giáo dục chúng môn đệ. Vào năm 1797, ông đề xuất thư chất vấn lên trường Học Lâm về việc Năng Hóa Trí Động () chủ Trương Thuyết Dục Sanh Quy Mạng (), rồi viết cuốn Hoành Siêu Trực Đạo Kim Cang Phê (), Chơn Tông An Tâm Thập Luận () để làm sáng tỏ Tông Nghĩa chánh thống. Năm 1804, vâng mệnh chính quyền Mạc Phủ, ông cùng với nhóm Đạo Ẩn () xuống Giang Hộ, tiến hành đối luận với Trí Động. Trước tác của ông có Chơn Tông An Tâm Thập Luận () 2 quyển, Hoành Siêu Trực Đạo Kim Cang Phê () 3 quyển, Luận Hành Thiên () 2 quyển, Vãng Sanh Luận Chú Nguyên Yếu () 6 quyển, v.v.