Đại Diễn Lịch

《大衍曆》 dà yǎn lì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Một trong những lịch pháp của Trung Quốc do ngài Nhất hạnh soạn vào đời Đường. Năm Khai nguyên thứ 9 (721), vua Đường Ban chiếu chỉ cho ngài Nhất hạnh soạn lịch mới để thay cho lịch Lân đức của Lí thuần phong soạn mà trong đó đã tính sai về ngày nhật thực. Ngài Nhất hạnh liền đi đến Giao châu ở phía nam, Thiết lặc ở phương bắc để tính toán vĩ độ của các nơi, rồi dùng những dụng cụ đo mặt trời để định ngày nhật thực, đồng thời, tính xem sự di động của Hằng tinh (étoile) rồi ghi thành bản thảo. Nhưng vào tháng 10 năm Khai nguyên 15 (727), khi Khai nguyên Đại Diễn Lịch 52 quyển mới hoàn thành được bản thảo thì ngài Nhất hạnh Thị Tịch. Sau, vua lại sai Trương Thuyết, Trần huyền cảnh biên đính Lịch số bảy thiên, Lược liệt một thiên và Lịch nghị mười thiên. Năm Khai nguyên 17 (729) vua ban cho các quan sử dụng đến niênhiệuBảo ứng năm đầu (762) thì đổi lại dùng lịch Ngũ kỉ của Quách hiến. Tên Đại Diễn Lịch là căn cứ theo từ ngữ Đại diễn chi số trong Hệ từ của sách Chu dịch mà ra. [X. Cựu đường thư Q. 34. Luật lịch chí; Tân đường thư Q. 27. phần trên mục Lịch chí; Thông chí lược Q. 20.; Phật Tổ Thống Kỉ Q. 40.].