Dẫn Nhân

《引因》 yǐn yīn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Đối lại với Sinh Nhân. Nhân Sinh ra Quả Báo gần (Cận Quả) và quả chính là Sinh Nhân; Nhân Sinh ra Quả Báo xa (viễn quả) và quả còn sót lại (tàn quả)Dẫn Nhân. Đứng về mặt hạt giống bên trong mà nói, thì hạt giống hiện tại sinh ra thân hiện tại là Sinh Nhân; hạt giống hiện tại dẫn đến xác chết rữa tan là Dẫn Nhân. Còn đứng về phương diện hạt giống bên ngoài mà nói, thì hạt giống nảy mầm thành cây là Sinh Nhân, hạt giống dẫn đến cây cỏ chết khô là Dẫn Nhân. Giai đoạn của xác chết và cỏ khô này đều không có hạt giống bên trong, bên ngoài hoặc sinh ở cõi khác, hoặc hạt giống đã diệt, nhưng nhờ sức Tác Dụng của Sinh Nhân mà hạt giống của Sinh Nhân cũng có thể đưa đến Dẫn Nhân. Chính do nghĩa này mà hạt giống của Sinh Nhân được gọi là Dẫn Nhân, hai nhân đều không có thể riêng khác. Lại nữa, trong 12 Nhân Duyên thì chi năng sinh gọi là Sinh Nhân, còn chi năng dẫn và chi sở dẫn đều là Dẫn Nhân. Nghĩa là ba chi: Ái, Thủ, Hữu gần với quả sinh và Lão Tử, ba chi này hay sinh ra Cận Quả nên gọi là Sinh Nhân. Còn bảy chi: Vô Minh, Hành, Thức, Danh Sắc, Lục xứ, Xúc, Thụ v.v... thì cách xa với quả sinh và Lão Tử, bảy chi này dẫn sinh viễn quả cho nên gọi là Dẫn Nhân. [X. luận Thành Duy Thức Q. 2.].