Cửu Phược Nhất Thoát
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chín loại trói buộc và một loại giải thoát. Ma Ha Chỉ Quán quyển 1 phần trên nói về mười loại Chúng Sinh phát tâm không giống nhau. Đó là:
1. Hỏa đồ đạo (Địa Ngục).
2. Huyết đồ đạo (ngã quỉ).
3. Đao Đồ đạo (Súc Sinh).
4. A Tu La Đạo (loài có phúc báo ngang với trời nhưng không phải trời).
5. Nhân đạo (loài người).
6. Thiên đạo (các cõi trời).
7. Ma La đạo (loài ma ác).
8. Ni kiền đạo (Ngoại Đạo).
9. Sắc vô sắc đạo (Sắc Giới và Vô Sắc Giới).10. Nhị Thừa đạo (Thanh Văn, Duyên Giác). Trong mười đạo nói trên, chín đạo trước là trói buộc, đạo thứ mười là giải thoát. Giải thoát và trói buộc tuy khác, nhưng đều là phát tâm không chân chính. Ma Ha Chỉ Quán quyển 1 phần trên (Đại 46, 4 trung) nói: Chín loại trước là Sinh Tử như tằm tự trói. Một loại sau là Niết Bàn, như con mang (giống như con hươu mà nhỏ, không có sừng - ND) đi một mình, tuy được giải thoát, nhưng chưa đầy đủ Phật Pháp. Chín loại trước là Thế Gian, không ra khỏi sống chết, một loại sau tuy giải thoát Sinh Tử, nhưng không có tâm Đại Bi, nên chưa đến được chỗ rốt ráo.
1. Hỏa đồ đạo (Địa Ngục).
2. Huyết đồ đạo (ngã quỉ).
3. Đao Đồ đạo (Súc Sinh).
4. A Tu La Đạo (loài có phúc báo ngang với trời nhưng không phải trời).
5. Nhân đạo (loài người).
6. Thiên đạo (các cõi trời).
7. Ma La đạo (loài ma ác).
8. Ni kiền đạo (Ngoại Đạo).
9. Sắc vô sắc đạo (Sắc Giới và Vô Sắc Giới).10. Nhị Thừa đạo (Thanh Văn, Duyên Giác). Trong mười đạo nói trên, chín đạo trước là trói buộc, đạo thứ mười là giải thoát. Giải thoát và trói buộc tuy khác, nhưng đều là phát tâm không chân chính. Ma Ha Chỉ Quán quyển 1 phần trên (Đại 46, 4 trung) nói: Chín loại trước là Sinh Tử như tằm tự trói. Một loại sau là Niết Bàn, như con mang (giống như con hươu mà nhỏ, không có sừng - ND) đi một mình, tuy được giải thoát, nhưng chưa đầy đủ Phật Pháp. Chín loại trước là Thế Gian, không ra khỏi sống chết, một loại sau tuy giải thoát Sinh Tử, nhưng không có tâm Đại Bi, nên chưa đến được chỗ rốt ráo.