Cụ Chi Quán Đỉnh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chỉ người Đệ Tử trong Mật giáo mà tư cách đã vững, năng lực đã mạnh, được quả phúc thí vô tận, đầy đủ mọi duyên Chi Phần để nhận pháp quán đính (dùng nước rảy lên đỉnh đầu). Cũng gọi là Tác Nghiệp quán đính, Sự nghiệp quán đính, Pháp Sự quán đính. Thông cả Thụ minh quán đính và Truyền Pháp quán đính. Đối lại với Dĩ Tâm Quán đính (quán đính trong Tâm Tưởng). Cụ chi quán đính là việc thực sự đem nước rưới lên đỉnh đầu. Cứ theo Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích diễn bí sao quyển 4 chép, thì khi làm quán đính này đòi hỏi phải đầy đủ nhiều chi (nhiều điều kiện), như dọn đất, chọn giờ, định ngày, đắp đàn, vẽ tượng và Kết Giới. Lại theo vị tăng người Nhật bản là Cảo bảo trong Đại Nhật Kinh Sớ diễn áo sao quyển 10, thì trong bảy ngày, người Đệ Tử phải thành tâm lễ Phật Sám Hối, sắm đủ hương hoa lễ vật, tức đầy đủ các thứ mà duyên đàn quán đính cần đến, gọi là Cụ chi quán đính, cũng tức là Sự nghiệp quán đính.Đại Nhật Kinh Sớ quyển 4, nêu ra mười thứ Chi Phần trong việc quán đính, gọi là Cụ chi quán đính thập chi, đó là: Chi Phần A Xà Lê, Chi Phần dọn đất, Chi Phần chọn giờ, Chi Phần lập đàn, Chi Phần hộ trì Đệ Tử, Chi Phần vẽ tượng, Chi Phần Tam Muội, Chi Phần Chân Ngôn, Chi Phần cúng dường và Chi Phần quán đính. Thông thường ba loại quán đính: Truyền Pháp, Thụ minh, Kết Duyên tuy đều được gọi là Cụ chi quán đính, nhưng vì Chi Phần quán đính Truyền Pháp là đầy đủ nhất, cho nên cũng có người chỉ gọi Truyền Pháp quán đính là Cụ chi quán đính. [X. kinh Đại nhật phẩm Cụ duyên Chân Ngôn - Đại Nhật Kinh Sớ Q. 15.]. (xt. Quán Đính).