Công Cứ

《公據》 gōng jù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: chứng cứ, bằng chứng của quan phủ, vật làm tin để dựa vào mà nói chuyện. Như trong bản Khất Tăng Tu Cung Tiễn Xã Điều Ước Trạng () của Tô Thức (, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Dục khất lập định niên hạn, mỗi cú đương cập tam niên, vô thấu lậu cập tư tội tình trọng giả, ủy bổn Huyện Lịnh Tá cập bổ đạo quan, bảo minh thân an phủ tư cấp dữ Công Cứ (, muốn xin lập định mức tuổi giới hạn, mỗi câu hợp với ba năm, không có người tiết lộ và tội tình riêng, ủy thác cho phụ tá Huyện Lịnh và quan bắt cướp, bảo đảm làm sáng tỏ vỗ về cho yên cấp sở và chứng cứ).” Trong Phật Giáo thường xuất hiện các thuật ngữ “Tây Phương Công Cứ (西, chứng cứ được sanh về Tây phương)”, “Vãng Sanh Công Cứ (, bằng chứng Vãng Sanh)”, v.v. Như trong Tịnh Độ Chỉ Quy Tập (, Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1154) quyển Hạ, phần Tây Phương Công Cứ (西), có đoạn: “Tô Văn Trung Công Nam Thiên nhật, bội họa nhất trục, nhân vấn chi. Công viết: 'Thử ngô Tây Phương Công Cứ dã' (西, ngày Tô Văn Trung Công [tức Tô Thức] dời về phương Nam, mang theo một bức tranh, có người hỏi. Ông đáp: 'Đây là chứng cứ về Tây phương của ta').” Trong A Di Đà Kinh Trực Giải Chánh Hạnh (, Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 434) cũng có đoạn: “Tô Đông Pha thường đới Tây Phương Công Cứ A Di Đà tượng, giai thị quy thê Cực Lạc chi tâm, Kim Nhân dục mích phiết khổ chi pháp, tu bằng Niệm Phật năng tiêu vạn kiếp chi khổ (西, Tô Đông Pha thường mang tượng A Di Đà làm bằng chứng về Tây phương, đều là tâm quay về an trú Cực Lạc; người thời nay muốn tìm phương pháp hết khổ, nên nương vào Niệm Phật thì có thể tiêu được cái khổ của muôn kiếp).” Sau này, Tri Quy Học Nhân Bành Tế Thanh (, 1740-1796) có sáng tác bộ Trùng Đính Tây Phương Công Cứ (西, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1180), 2 quyển.