Chính Trợ Nhị Nghiệp
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Là Chính Nghiệp và trợ nghiệp nói gộp lại. Cũng gọi là Trợ chính Nhị Nghiệp. Chính Nghiệp, còn gọi là Chính Hành, là hành của Chân trực tiếp - Trợ nghiệp, còn gọi là Trợ hành, là hành của nhân gián tiếp. Trong năm thứ vãng sinh Chính Hành là đọc tụng, Quán Tưởng, Lễ Bái, xưng danh và Tán Thán cúng dường do ngài Thiện Đạo tông Tịnh Độ lập ra, thì lấy xưng danh làm Chính Nghiệp hoặc Chính Định Nghiệp của sự vãng sinh Tịnh Độ, còn bốn thứ kia là Trợ nghiệp, cả hai gộp lại gọi là Chính Trợ Nhị Nghiệp. Danh từ này có xuất xứ từ Quán Kinh Sớ Tán Thiện nghĩa. Xưng danh theo ngài Thiện Đạo nói, tức là một lòng Chuyên Niệm Danh Hiệu của Phật A di đà, bất luận là đi đứng ngồi nằm, không kể thời gian lâu mau, đều Niệm Niệm không bỏ - vì tu hành Bản Nguyện của Đức Di đà mà thuận theo, thì nhờ nguyện của Ngài chắc chắn sẽ được vãng sinh Tịnh Độ, cho nên gọi là Chính Định Nghiệp. Đôi khi sợ biếng nhác lơ là trong việc Xưng danh nên phải dùng bốn phương pháp đọc tụng, Quán Tưởng, Lễ Bái, và Tán Thán cúng dường để giúp thúc đẩy tâm Niệm Phật, cho niên gọi là Trợ nghiệp. Bốn trợ nghiệp này cũng gọi là Đồng Loại Trợ Nghiệp , đối lại, nếu phát tâm Bồ Đề, Xuất Gia v.v... mà tu các hạnh khác ngoài năm Chính Hành nói trên, thì gọi là Dị Loại Trợ Nghiệp ...... [X. Tuyển trạch Bản Nguyện Niệm Phật tập]. (xt. Ngũ Chính Hành, Chính Hành).