Chỉ Quán
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
shikan: Chỉ là ý dịch của từ Xa Ma Tha (Sanskrit: śamatha, Pāli: samatha 奢摩他); Quán là ý dịch của từ Tỳ Bát Xá Na (Sanskrit: vipaśyanā, Pāli: vipassanā 毘鉢舍那). Trong Thiền định, có 2 phương diện Chỉ và Quán. Chỉ là nhắm đến việc thống nhất tinh thần để đạt đến trạng thái Tịch Tĩnh vô niệm vô tưởng. Quán nghĩa là quán sát tư duy Chư Pháp thông qua trí tuệ. Và ta cũng có thể cho Chỉ là Định, Quán là Tuệ. Trong 4 cõi Thiền định của Sắc Giới (Sanskrit: rūpa-dhātu, 色界), Quán được xem là nhiều hơn. Trong 4 cõi Thiền định của Vô Sắc Giới (Sanskrit: ārūpa-dhātu, 無色界), Chỉ được xem như là nhiều hơn. Trong cõi định của Dục Giới (Sanskrit: kāma-dhātu, 欲界) thì chỉ có Quán mà không có Chỉ. Từ cõi Sơ Thiền của Sắc Giới trở lên, trong Quán có thêm yếu tố của Chỉ, rồi trong cõi định của Bốn Vô Sắc Giới thì Quán dần dần giảm đi và Chỉ mạnh lên. Trong cõi định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (Sanskrit: Naivasaṁjñānāsaṁjñāyatana, 非想非非想處) cũng như Diệt Tận Định của Vô Sắc Giới thì Tác Dụng của Tuệ tưởng niệm quán sát hầu như mất hẳn, và trở thành trạng thái vô niệm vô tưởng. Còn trong các cõi Thiền định, cõi Tứ Thiền thì Chỉ và Quán ngang nhau, hay trạng thái Chỉ Quán Đồng Hành, tương truyền rằng sự thành đạo cũng như Nhập Diệt của đức Phật đều được thực hiện ngay nơi cõi Tứ Thiền này.