Ca Lợi Quật Viện
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Ca lợi, Phạm: Kàrlì. Tên một tự viện (Phạm: Caitya=Chi Đề) hang đá ở Bombay, Ấn Độ. Viện hang này do nhà trước nhà sau tạo thành, nhà trước rộng khoảng 83 mét, dài 24 mét. Nửa bên phải của mặt trước đã hư hỏng rõ rệt, không có cột, mặt chính còn sót lại bức vách ngăn che, chỗ này có ba cửa vào ăn thông với nhà sau, bên trên các cửa này là các cửa sổ lớn hình móng ngựa làm lối lấy ánh sáng vào nhà sau; hình chạm nổi trên bức vách bên cạnh là tượng Phật và tượng những người dâng cúng. Nhà sau là phần chính của viện hang đá này, rộng chừng 73 mét, dài 199 mét, cao 74 mét. Dọc theo mặt vách, cách khoảng 16 mét có 37 cây cột đá đứng thẳng hàng. Phía trong nhà sau chia làm Ngoại Trận và Nội Trận, chỗ sâu nhất của Nội Trận có đặt một tòa tháp hình bát úp, thiên tỉnh hình vòm trời, có lẽ là loại hình kiến trúc sáng tạo thời bấy giờ. Trên nền tầng thứ hai của tòa tháp đặt cái bát úp, trên bát úp có nóc bằng và cây lọng. Cây lọng làm bằng gỗ, đến nay đã hơi hư hao, nhưng vì nó đã được sáng tạo vào thời ấy nên được xem là di tích lọng tháp Duy Nhất của đời xưa hiện còn.Bên trong tháp hiện nay rỗng không, chẳng còn thứ di vật nào. Trong 37 cây cột đá, bảy cột chung quanh tháp là cột tám góc đơn thuần, còn hai bên cạnh đều có 15 cây cột tám góc, nhưng trên đầu cột có hình quả chuông và những chạm trổ khác. Những chạm trổ ấy gồm có: voi hai đầu đang quì, phối với người đàn ông đàn bà và các con vật, nét khắc rất đẹp. Phía trước hang bên trái, có cột sư tử (Phạm: siôha-stambha) khắc hình sư tử bốn đầu trên đầu cột; bên phải có Tăng viện (Phạm: vihàra) nằm riêng rẽ trên nóc do bốn cây cột tạo thành. Người ta nhận lầm Quật viện này là phẩm vật dâng tế thần Thấp bà (Phạm: Zìva), nên nhiều Tín Đồ của Thấp bà giáo đã đến đây cư ngụ, vì những lớp mồ hóng đen ngòm, nên không biết rõ có những bức tranh vẽ trên vách hay không ? Về niên đại đục mở hang viện này thì không được rõ, nhưng cứ theo văn khắc của Trưởng giả Bố đạt ba la (Phạm: Bhùtapàla) ở Tì ca diên đề (Phạm: Vaijayantì)ghi chép lí do tạo dựng viện hang đá này và theo thể chữ viết của ông mà suy đoán, thì tự viện này được khai sáng vào khoảng thời kì đầu của kỉ guyên Tây lịch.Ngoài ra, còn có văn khắc ghi sự kiện Thiện tuế bộ đã dâng điện trước gồm chín phòng cúng dường chư tăng bốn phương, đặc biệt là chư tăng thuộc Đại Chúng Bộ, việc này xảy ra dưới triều vua Thất Lợi phổ lỗ mã tì (Phạm: Zrìpulumavì) của Vương triều Án đạt la vào giữa thế kỉ thứ hai Tây lịch. Viện hang đá này là Chi Đề lớn nhất còn sót lại ở Ấn Độ, rất đáng giá để bảo tồn. [X. Fergusson and Burges: Cave Temples of India; Fergusson: History of Indian and Eastern Architecture, vol. I; Monier Williams: Buddhism; Coomaraswamy: History of Indian and Indonesian Art; Ấn Độ mĩ thuật sử; Ấn Độ Phật tháp tuần lễ kí].