Bồ Tát Pháp Tạng
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: Dharmākara: còn gọi là Pháp Tạng Tỳ Kheo (法藏比丘); âm dịch là Đàm Ma Ca (曇摩迦), Đàm Ma Ca Lưu (曇摩迦留); ý dịch là Pháp Bảo Xứ (法寶處), Pháp Xứ (法處), Pháp Tích (法積), Tác Pháp (作法); là Pháp Danh của đức Phật A Di Đà khi chưa Thành Phật. Theo Vô Lượng Thọ Kinh, quyển Thượng, trong đời Quá Khứ xa xưa thời đức Thế Tự Tại Vương Phật (世自在王佛) trụ thế, có vị Quốc Vương, sau khi nghe Phật Thuyết pháp, bèn phát tâm vô thượng, xả bỏ vương vị Xuất Gia, hiệu là Pháp Tạng. Vị này tài cao, minh triết, siêu bạt giữa đời, theo tu tập với Thế Tự Tại Vương Phật, phát 48 lời Thệ Nguyện để cứu độ Chúng Sanh và sau một thời gian tu hành lâu xa, ngài Thành Tựu Bản Nguyện của mình và được Thành Phật. Vị Phật này chính là A Di Đà Phật. Như trong Lễ Niệm Di Đà Đạo Tràng Sám Pháp (禮念彌陀道塲懺法, CBETA No. 1467) quyển 7, phần Phát Nguyện Vãng Sanh (發願徃生) có đoạn rằng: “Thị cố phục ưng tu học Bồ Đề Hạnh Nguyện, như A Di Đà Phật tối sơ nhân trung, vi Pháp Tạng Tỳ Kheo, sở phát tứ thập bát nguyện; hựu như Phổ Hiền Văn Thù quảng đại Hạnh Nguyện, diệc như Thập Phương Tam Thế chư Đại Bồ Tát sở hữu Hạnh Nguyện, ngã diệc Như Thị Thứ Đệ tu học (是故復應修學菩提行願、如阿彌陀佛最初因中、爲法藏比丘、所發四十八願、又如普賢文殊廣大行願、亦如十方三世諸大菩薩所有行願、我亦如是次第修學, vì vậy lại nên tu học Hạnh Nguyện Bồ Đề, như trong Nhân Vị đầu tiên của Phật A Di Đà, là Tỳ Kheo Pháp Tạng, đã phát bốn mươi tám nguyện, cũng như Hạnh Nguyện rộng lớn của Phổ Hiền, Văn Thù, cũng như Hạnh Nguyện vốn có của chư vị Đại Bồ Tát trong mười phương ba đời, con cũng lần lượt tu học như vậy).”