Biểu Sắc
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phàm các hình thái động tác của người ta, như: đi, đứng, ngồi, nằm, lấy, bỏ, co, duỗi v.v... hiển nhiên có thể biểu hiện ra bên ngoài, khiến ai ai cũng thấy tức gọi là Biểu Sắc. Là một trong ba loại Sắc Cảnh do tông Duy Thức lập ra. Các nhà dịch cũ dịch là Tác sắc. Cứ theo luận Du Già sư địa quyển 1 nói, thì có ba thứ sắc: Hiển Sắc, Hình Sắc, Biểu Sắc.
1. Hiển Sắc: như xanh vàng đỏ trắng, ánh sáng bóng tối, mây khói bụi sương và Hư Không v.v.. đều là Hiển Sắc.
2. Hình Sắc: như dài ngắn vuông tròn, to nhỏ lớn bé, thẳng cong cao thấp v.v... đều là Hình Sắc, là những tướng trạng của các Sắc Pháp.
3. Biểu Sắc: những hình thái động tác như đi, đứng, ngồi, nằm, lấy, bỏ, co, duỗiv.v... đều là Biểu Sắc. Biểu Sắc này theo nhau Sinh Diệt, vì nhân biến đổi, nên Không Sinh lại ở cùng một chỗ sinh ra trước đó, mà chuyển dời đến chỗ khác. Hình thái của động tác trước sau hoặc có gián đoạn, hoặc không gián đoạn, hoặc gần, hoặc xa đều vì sai khác mà sinh, hoặc ở ngay chỗ ấy biến đổi mà sinh. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ và tông Câu xá của Tiểu Thừa chỉ lập Hiển Sắc và Hình Sắc chứ không lập Biểu Sắc. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 2 trung) chép: Nói sắc có hai: một là Hiển Sắc, hai là Hình Sắc. Hiển Sắc có bốn, (...) Hình Sắc có tám. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ đem Biểu Sắc nhiếp thuộc vào Hình Sắc. Các nhà Duy Thức thì ngoài Hiển Sắc, Hình Sắc, còn lập riêng Biểu Sắc. [X. luận Đại tì Bà Sa Q. 75.; luận Hiển dương Thánh Giáo Q. 1.; luận Thành Duy Thức Q. 1.; Thành Duy Thức Liễu Nghĩa Đăng Q. 2.; Bách pháp vấn đáp sao Q. 1.]. (xt. Hình Sắc, Hiển Sắc).
1. Hiển Sắc: như xanh vàng đỏ trắng, ánh sáng bóng tối, mây khói bụi sương và Hư Không v.v.. đều là Hiển Sắc.
2. Hình Sắc: như dài ngắn vuông tròn, to nhỏ lớn bé, thẳng cong cao thấp v.v... đều là Hình Sắc, là những tướng trạng của các Sắc Pháp.
3. Biểu Sắc: những hình thái động tác như đi, đứng, ngồi, nằm, lấy, bỏ, co, duỗiv.v... đều là Biểu Sắc. Biểu Sắc này theo nhau Sinh Diệt, vì nhân biến đổi, nên Không Sinh lại ở cùng một chỗ sinh ra trước đó, mà chuyển dời đến chỗ khác. Hình thái của động tác trước sau hoặc có gián đoạn, hoặc không gián đoạn, hoặc gần, hoặc xa đều vì sai khác mà sinh, hoặc ở ngay chỗ ấy biến đổi mà sinh. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ và tông Câu xá của Tiểu Thừa chỉ lập Hiển Sắc và Hình Sắc chứ không lập Biểu Sắc. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 2 trung) chép: Nói sắc có hai: một là Hiển Sắc, hai là Hình Sắc. Hiển Sắc có bốn, (...) Hình Sắc có tám. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ đem Biểu Sắc nhiếp thuộc vào Hình Sắc. Các nhà Duy Thức thì ngoài Hiển Sắc, Hình Sắc, còn lập riêng Biểu Sắc. [X. luận Đại tì Bà Sa Q. 75.; luận Hiển dương Thánh Giáo Q. 1.; luận Thành Duy Thức Q. 1.; Thành Duy Thức Liễu Nghĩa Đăng Q. 2.; Bách pháp vấn đáp sao Q. 1.]. (xt. Hình Sắc, Hiển Sắc).