Bỉ Đồng Phần

《彼同分》 bǐ tóng fēn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: tat-sabhàga. Cũng gọi Phi đẳng phận, Dư hữu phận. Vì căn, cảnh, thức quan hệ lẫn nhau, mỗi thứ tự tạo lấy nghiệp, nên gọi là Đồng phận (Phạm: Sabhàga), cũng gọi Hữu phận, Đẳng phận. Trái lại, căn, cảnh, thức quan hệ lẫn nhau,mà không tạo nghiệp riêng, thì gọi là Bỉ đồng phận. Tức là, tuy mỗi thứ không tạo nghiệp riêng, nhưng lại là đồng phận với chủng loại đồng phận có tạo nghiệp, như tướng năng kiến, sở kiến không khác; hơn nữa, lại là cùng xứ, cùng giới, là nhân đồng loại và quả Đẳng Lưu của nhau, cùng thuộc lẫn nhau, cùng nhau dẫn khởi v.v... cho nên gọi là Bỉ đồng phận. Trong 18 giới, chỉ có Pháp Giới là đồng phận, còn 17 giới kia thì thông cả hai đồng phận và bỉ đồng phận. Luận câu xá quyển 2 (Đại 29, 10 trung), nói: Nghĩa đồng phận, bỉ đồng phận là thế nào? Căn, cảnh, thức cùng giao thiệp với nhau, gọi là phận. Hoặc có người cho phận là Tác Dụng riêng, lại cũng có người cho phận là Sở sinh xúc (va chạm sinh ra Tác Dụng), các thứ (căn, cảnh, thức) cùng có phận này, nên gọi là Đồng phận. Trái lại, thì gọi là Bỉ đồng phận. [X. luận Thuận chính lí Q. 6.; luận Đại tì Bà Sa Q. 71., Q. 72.; luận Du Già sư địa Q. 56.]. (xt. Đồng Phận).