Bảo Quyển

《寶卷》 bǎo juǎn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Là loại văn học diễn biến từ thể văn biến đời Đường. Sản sinh vào khoảng đời Tống, Nguyên và lưu hành ở khoảng năm Chính đức (1506-1521) đời Vũ tôn nhà Minh đến cuối đời Thanh, đầu thời Dân quốc. Thời vua Chân tôn nhà Tống, các tăng sĩ bị cấm không được giảng tụng bằng văn biến thể, từ đó văn biến thể biến thành hình thức Đàm Kinh, Thuyết Kinh, Thuyết Tham Thỉnh, cũng tức là cái biến tướng của văn biến thể được phát triển, Bảo Quyển cũng nhân thời vận đó mà sản sinh. Nội dung kết cấu của Bảo Quyển với văn biến thể đại khái chỉ khác nhau chút ít, phần nhiều ngôn ngữ thông tục dễ hiểu, phối hợp âm nhạc, thêm giọng ngâm tụng nhằm mục đích thông tục hóa. Cái được tụng giảng là bảo quyền Phật giáo lấy Nhân Quả Báo Ứng, sự tích trong đạo Phật làm chủ yếu, cũng có khi lấy Bảo Quyển phi Phật Giáo Như truyện cổ dân gian, truyện cổ Thần Đạo làm chủ yếu. Tương truyền bảo quyền đầu tiên là Bảo Quyển Hương sơn, do Thiền Sư Phổ minh đời Tống viết. Nhưng khảo sát thực tế thì cho thấy, Bảo Quyển Hương sơn, Bảo Quyển Tiêu Thích Chân Không, Bảo Quyển Mục Liên Cứu Mẫu xuất li Địa Ngục thăng thiên v.v... là những Bảo Quyển sớm nhất. Bảo Quyển Phật giáo có thể chia làm hai loại là kinh văn khuyên đời và truyện Cổ Phật giáo. Ở thời kì đầu, Bảo Quyển thường được gọi là Kinh. Như Bảo Quyển Dược Sư Bản Nguyện Công Đức là hoàn toàn diễn kinh Dược Sư Bản Nguyện chứ không thuật kĩ truyện cổ. Những Bảo Quyển phi Phật giáo tương đối nổi tiếng thì có Bảo Quyển Trân châu tháp, Bảo Quyển Mạnh khương nữ, Bảo Quyển Anh đài v.v... Những bảo quyền kể truyện Cổ Phật giáo rất được dân gian hoan nghênh, và Bảo Quyển Mục liên cứu mẹ thoát khỏi Địa Ngục sinh lên cõi trời là Thí Dụ đẹp nhất. Ngoài ra còn có Bảo Quyển Mục liên (khác với Bảo Quyển Thăng thiên), Bảo Quyển Hương sơn, Bảo Quyển Diệu anh v.v... hoặc tườngthuật về sự tu đạo cứu đời của Bồ Tát, hoặc nói về quá trình tu hành của thiệnnam tín nữ dân gian, đối với phụ nữ rấtcó ảnh hưởng.Danh từ Bảo Quyển chỉ là tên gọi chung cho loại sách này, chứ tên sách riêng biệt thì chưa chắc đã có hai chữ Bảo Quyển, mà chỉ gọi là quyển, làkinh, cũng có khi gọi là chân kinh, khoa nghi, bảo sám, bảo truyện v.v... Tuyêngiảng Bảo Quyển, gọi là Tuyên quyển.Khi tuyên quyển, trước hết phải thắphương thỉnh Phật, bao hàm sắc thái tôn giáo đậm đà, khác với sự giảng diễn thông thường.Thể lệ của Bảo Quyển lấy văn vần làm chủ, dùng văn xuôi thuyết minh bổ sung. Thông thường mỗi bản chia làm hai mươi bốn phẩm, trong mỗi phẩm lại tách ra làmbốn phần:
1. Phần nghi thức, mở đầu và kết thúc đều phải thắp hương nghinh thỉnh, nghinh tống Phật Bồ Tát Thần linh, những bài kệ đọc lúc này là kệ Khai Kinh, kệ Tán Hương, kệ thu kinh.
2. Phần tâu bạch, trước văn vần trong mỗi phẩm, dùng văn xuôi nói miệng để tâu bạch.
3. Phần ngâm tụng, là thể thường của Bảo Quyển, phần nhiều dùng văn vần thể bảy chữ hoặc mười chữ để ngâm tụng.
4. Phần ca xướng, dùng các bài hát thêm vào giữa phẩm hoặc cuối phẩm. Các bài thông dụng hơn cả là Trú vân phi, Hoàng oanh nhi, Sơn pha dương, Nhạn nhi lạc, Bàn trang đài (áng mây bay, chim hoàng oanh, con dê dốc núi, con nhạn lạc, bên đài trang), hoặc phối với các sênh tre, điệu đàn để dễ xướng tụng. Bảo Quyển thường bị lạm dụng Thành Tôn giáo dân gian Bí Mật, làm công cụ tổ chức của các hội đoàn Bí Mật, các tôn giáo dân gian như Bạch Liên Giáo, La giáo, Hoằng dương giáo, Văn hương giáo trong đời nhà Minh, đều dùng Bảo Quyển làm Kinh Quyển phụng trì, cho nên Bảo Quyển thường bị các thế lực chính trị cấm lưu truyền. Những tác phẩm hiện còn không được bao nhiêu, theo những người sưu tập gần đây thì tổng số ước chừng chỉ còn độ một trăm bản mà thôi. [X. Trung Quốc tục văn học sử (Trịnh chấn đạc); Bảo Quyển chi nghiên cứu (Trạch điền thụy huệ)].