Bảo Quỳnh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Vị tăng đời Lương thời Nam Bắc Triều. Người huyện Đông hoàn (Thủy tố, Sơn đông), họ Từ. Sau lánh nạn đến ở Tì lăng khúc a (huyện Đơn dương tỉnh Giang tô). Xuất Gia từ nhỏ, thờ Sa Môn Pháp thông làm thầy, được coi là Đạo Khí. Hơn mười lăm tuổi, thụ học Tông Nghĩa Thành thực của ngài Pháp Vân chùa Quang Trạch, sau chuyển đến chỗ Nam giản Tiên sư, nghiên tập Tì đàm học. Tiên sư thấy người trong bụng rất mừng, bèn dặn Môn Đồ dạy viết. Trong năm Thụ Giới Cụ Túc đã có thể thuật lại những lời mà vị giảng kinh đã nói, sau năm năm được bổ nhiệm chức Pháp Chủ, rồi cùng với Tiên sư hoằng hóa ở Hàng châu và Hành châu, từng được Lương Vũ Đế vời vào điện Thọ quang để đàm đạo. Về sau, xin cáo từ trở về làng, giảng đạo ở chùa Kiến an, rồng trắng thường đến chỗ sư ngồi giảng, mọi người trông thấy đều kinh lạ và gọi sư là Bạch quỳnh (ngọc trắng). Vì lời thỉnh cầu của Giản tử Chu Hoằng Chính, sư lại một lần nữa về Kinh đô, giảng luận Thành thực, trong thời kì này cũng có nhiều Hiện Tượng linh dị. Kịp đến thời Vũ đế, Văn đế nhà Trần, sư được cử làm Kinh ấp Đại Tăng Chính, ra sức sửa đổi thói tệ cũ, khiến Tăng Ni Tự kiểm điểm nghiêm túc. Thanh danh của sư truyền khắp bốn phương, cả các nước Đông Hải cũng sai sứ đến xin vẽ Hình Tượng của sư để về thờ vọng. Năm Chí đức thứ 2 đời Trần, sư nhập tịch, thọ tám mươi mốt tuổi, an táng ở phía sau Chung Sơn. Sư giảng thuyết giỏi, như giảng luận Thành thật chín mươi mốt lần, kinh Niết Bàn ba mươi lần, kinh Đại phẩm Bát Nhã năm lần; trứ tác cũng nhiều, như Thành thật Huyền Nghĩa 20 quyển, Thành thật văn sớ 16 quyển, Niết Bàn sớ 17 quyển, Đại phẩm sớ 13 quyển, Đại Thừa nghĩa 10 quyển, Pháp hoa, Duy Ma văn sớ mỗi thứ đều mấy quyển. [X. Tục Cao Tăng Truyện Q. 7.; Lục Học Tăng truyện Q. 22.; Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải Q. 10.].