Bạch Pháp

《白法》 bái fǎ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

I. Bạch Pháp. Chỉ pháp lành trong sạch. Đối lại với Hắc Pháp (pháp tà ác nhơ nhớp). Kinh Đại Phương Đẳng đại tập quyển 55 (Đại 13, 363 thượng) nói: Sau khi ta Nhập Diệt trong năm trăm năm, các tỉ khưu còn trong pháp của ta được giải thoát kiên cố. (...) Năm trăm năm kế tiếp, các tỉ khưu ở trong pháp ta đấu tranh giành giật, Bạch Pháp ẩn mất, tổn hại kiên cố. Lại luận Cứu kính Nhất Thừa bảo tính quyển 4 (Đại 31, 847 hạ) nói: Kẻ ngu không tin Bạch Pháp, Tà KiếnKiêu Mạn, do nghiệp báng pháp ở Quá Khứ, cứ chấp chặt những cái mà nghĩa lí không rõ ràng, tham đắm sự cúng dường Cung Kính, duy chỉ thấy các pháp tà. Đây là lấy Chính Pháp do đức Phật nói làm Bạch Pháp, pháp do Ngoại Đạo nói làm Hắc Pháp. cho nên, đến đời Mạt Pháp, tất cả giáo pháp của Phật đã diệt hết, thì gọi là Bạch Pháp ẩn trệ (pháp lành ẩn mất). Lại nếu nói theo nghiệp thì hết thảy pháp có thể chia làm Hắc Pháp, Bạch Pháp, phi hắc Bạch Pháp. Cứ theo luận Nhiếp Đại Thừa (bản dịch đời Lương) quyển 11, quyển 13 chép, thì các pháp Phiền Não Bất ThiệnHắc Pháp, các pháp thiện Hữu Lậu (lậu, tức là tên gọi khác của Phiền Não)Bạch Pháp, còn các pháp thiện vô lậu là pháp phi Hắc Bạch, cũng tức là Đệ Nhất Nghĩa Đế, không dính dấp một mảy may Tạp Nhiễm nào của hắc hay Bạch Pháp. Lại hai thứ Bạch Pháp là chỉ thẹn và hổ. Có nghĩa là hai thứ này có thể khiến cho các hành động được sáng sủa sạch sẽ, cứu độ Chúng Sinh, cho nên gọi là Bạch Pháp. Cứ theo Hoa Nghiêm Kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 44 chép, thì:
1. Tàm Bạch Pháp, nghĩa là bên trong tự thẹn thùng không dám làm điều xấu ác.
2. Quí Bạch Pháp, nghĩa là bên trong tự thấy xấu hổ sợ hãi, rồi dãi bày tội lỗi không dám làm lại nữa. Vì thế, bảo người tu Hành Đạo Phật phải tu trì Bạch Pháp, vứt bỏ Hắc Pháp, tức phải tu tập pháp lành, dứt trừ hạnh ác. Ngoài ra, bốn thứ Bạch Pháp là chỉ dục Bạch Pháp, hành Bạch Pháp, mãn túc Công Đức Bạch Pháp, chứng Bạch Pháp. Thắng tư duy Phạm Thiên sở vấn kinh luận quyển 1 nói rằng, người tu hạnh Bồ Tát, phải tập tất cả pháp lành trắng sạch, xa lìa Hắc Pháp bốn ngả (tu la, ngã quỉ, Súc Sinh, Địa Ngục). Bởi thế, người tu hạnh Bồ Tát phải tu tập:
1. Dục Bạch Pháp, nghe chính giáo của đức Phật, tâm sinh vui thích không muốn bỏ trong giây phút nào.
2. Hành Bạch Pháp, siêng năng tu hành sáu độ, chỉ nhằm làm Lợi Ích cho Thế Gian, cho hết thảy Chúng Sinh, chứ không cầu Quả Báo cho chính mình.
3. Mãn túc Công Đức Bạch Pháp, Tinh Tiến dũng mãnh, tu khắp mọi hạnh, khiến cho các Công Đức tròn đầy.
4. Chứng Bạch Pháp, hạnh trong sạch đã thành, Công Đức đã đủ, chứng ngộ được quả Phật. [X. kinh Niết Bàn (bản Bắc) Q. 19.; luận Phẩm loại túc Q. 6.; luận Câu xá Q. 16.]. (xt. Hắc Pháp).
II. Bạch Pháp. Chỉ cách Biểu Bạch. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 3 (Đại 40, 25 thượng), nói: Không tác bạch đúng Bạch Pháp, không làm việc đúng Yết Ma pháp.