Bạc Địa
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Bạc Địa. Ý là địa vị thấp kém hèn mọn. Chỉ địa vị Phàm Phu hèn kém. Trong Tịnh Tâm Giới Quán Pháp quyển hạ của ngài Đạo Tuyên (Đại 45, 826 hạ), nói: Phàm Phu Bạc Địa, thân thối (thúi) quê mùa, Quả Báo hèn hạ. Thông thường dẫn dụng những từ ngữ như Bạc Địa Phàm Phu, Bạc Địa Để Hạ Phàm Phu. Bạc có ý bức, vì Phàm Phu ở trong địa vị luôn bị các khổ đau và Phiền Não bức bách, cho nên gọi là Bạc Địa. Lại bạc có ý là bác, bởi vì địa vị Phàm Phu quá nhiều, quá rộng, cho nên gọi là Bạc Địa (Bác địa). Ngoài ra, tông Tịnh Độ đem chia địa vị Phàm Phu làm ba loại là Nội Phàm vị, Ngoại Phàm vị và Bạc Địa, tức Tam Hiền vị gọi là Nội Phàm, Thập Tín vị gọi là Ngoại Phàm, trở xuống gọi là Bạc Địa.
II. Bạc Địa. Là một trong Tam Thừa cộng Thập Địa. Thập Địa là: Càn tuệ địa, Tính địa, Bát Nhân Địa, Kiến Địa, Bạc Địa, Li dục địa, Dĩ tác địa, Bích Chi Phật địa, Bồ Tát Địa, Phật địa. Trong địa vị này (Bạc Địa), người ba thừa quán Tư hoặc tức không, phát sáu trí vô ngại, dứt trừ sáu phẩm trong chín phẩm hoặc thuộc Dục Giới, do đó mà dục hoặc trở nên nhẹ, mỏng, cho nên gọi là Bạc Địa. Địa vị này cũng giống như quả Tư-đà-hàm của Tiểu Thừa. [X. luận Đại trí độ Q. 49., Q. 75.].
II. Bạc Địa. Là một trong Tam Thừa cộng Thập Địa. Thập Địa là: Càn tuệ địa, Tính địa, Bát Nhân Địa, Kiến Địa, Bạc Địa, Li dục địa, Dĩ tác địa, Bích Chi Phật địa, Bồ Tát Địa, Phật địa. Trong địa vị này (Bạc Địa), người ba thừa quán Tư hoặc tức không, phát sáu trí vô ngại, dứt trừ sáu phẩm trong chín phẩm hoặc thuộc Dục Giới, do đó mà dục hoặc trở nên nhẹ, mỏng, cho nên gọi là Bạc Địa. Địa vị này cũng giống như quả Tư-đà-hàm của Tiểu Thừa. [X. luận Đại trí độ Q. 49., Q. 75.].