An Thế Cao

《安世高》 ān shì gāo

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Anseikō, khoảng giữa thế kỷ thứ 2: vị tăng Dịch Kinh thuộc thời kỳ đầu của Phật Giáo Trung Quốc, người nước An Tức (), tên Thanh (), tự Thế Cao (), con của vị Quốc Vương trong vùng. Họ An của ông vốn xuất phát từ nơi ông sinh ra (nước An Tức). Lúc còn nhỏ ông rất nổi tiếng có hiếu với song thân, tánh chất thương người, học rộng hiểu sâu. Sau khi phụ thân qua đời, ông xả bỏ ngôi vị Quốc Vương, quy y cửa Phật, thâm hiểu Kinh Tạng và tinh thông A Tỳ Đàm cũng như Thiền. Vào năm thứ 2 (148) niên hiệu Kiến Hòa () đời vua Hoàn Đế () nhà Đông Hán, ông đi qua các nước Tây Vức, rồi đến Lạc Dương (), chuyên tâm vào việc Phiên Dịch Kinh Điển cho đến năm thứ 3 (170) niên hiệu Kiến Ninh () đời vua Linh Đế (), tổng cọng hơn 20 năm. Trong khoảng thời gian này, ông đã dịch được tất cả khoảng 34 bộ, 40 quyển (có thuyết cho là 35 bộ, 41 quyển) như An Ban Thủ Ý Kinh (), Ấm Trì Nhập Kinh (), A Tỳ Đàm Ngũ Pháp Tứ Đế (), Thập Nhị Nhân Duyên (), Chuyển Pháp Luân (), Bát Chánh Đạo (), Thiền Hành Pháp Tưởng (), Tu Hành Đạo Địa Kinh (), v.v. Kinh Điển ông dịch có nghĩa lý rõ ràng, chữ nghĩa súc tích, chủ yếu truyền bá học thuyết A Tỳ Đàm () của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ thuộc Phật Giáo Tiểu Thừa và lý luận Thiền định. Chính ông đã hình thành nên cơ sở cho việc lưu truyền Phật Học vào thời kỳ đầu của Trung Quốc và là người đầu tiên đem Thiền quán vào nước này.