Ẩn Hiển Tứ Cú

《隱顯四句》 yǐn xiǎn sì jù

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Đối lại với Tồn Hoại Tứ Cú. Trong Ngũ Giáo chương quyển 1, tổ thứ ba của tông Hoa nghiêm là ngài Pháp Tạng, chia Biệt Giáo Nhất Thừa cai nhiếp môn làm hai môn Bất dị và Bất nhất, rồi Bất dị môn lại được chia thành hai hạng mục là Tam tức nhất, Nhất tức tam. Trong Tam tức nhất lại Phân Biệt làm bốn câu để bàn sự còn mất của ba thừa, gọi là Tồn Hoại Tứ Cú; trong Nhất tức tam cũng Phân Biệt bốn câu để bàn sự ẩn hiển của Nhất Thừa, gọi là Ẩn Hiển Tứ Cú. Nhưng, về bốn câu Nhất Thừa ẩn hiển, ngài Pháp Tạng chưa trực tiếp nêu tỏ câu văn, mà chỉ dựa vào bốn câu tồn hoại để suy luận. Dùng bốn câu tồn hoại mà suy luận đến bốn câu ẩn hiển là thế này:
1. Vì tức ba nên chẳng đợi ẩn,
2. Vì tức ba nên không ngại hiển,
3. Vì tức ba nên không gì mà chẳng ẩn,
4. Vì tức ba nên không gì có thể hiển. Trong hai câu đầu, vì một tức là ba, nên tướng Nhất Thừa y nhiên rõ ràng; trong hai câu sau, vì một tức là ba, nên tướng Nhất Thừa ẩn mất không hiển. Lại vì hai nghĩa đầu nên giáo nghĩa ba thừa có chỗ sở y; vì hai nghĩa sau nên quyền giáo giả lập mới được Thành Tựu. Tuy có bốn câu, nhưng đều chỉ có ba thừa chứ không có Nhất Thừa, đó là Bất dị môn Nhất tức tam vậy. (xt. Tồn Hoại Tứ Cú).