A La Tì Quốc

《阿羅毗國》 ā luó pí guó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

A la tì, Phạm:Aơàvì, Pāli: Àơavì. Tên một nước xưa ở Ấn Độ, gần Sông Hằng. Còn gọi là A la bề quốc, A Đồ Tì quốc, A la Bà Già quốc, A la bề già la quốc. Dịch ý là rừng, đồng nội, đồng không, là nơi chim muông ở. Kinh Trưởng lão kệ (Theragàthà) Nam truyền vănPāli, bài kệ thứ 1263 có đề cập đến chùa A Ca La ngõa (Aggàlav-chetiya), là ngôi chùa nổi tiếng ở nước A la tì. Cứ theo chú thích của bài kệ trên nói, thì vị trí nước A la tì nằm dọc theo bờ Sông Hằng, cách nước Ba La Nại(Phạm:Vàraịasì) ngược dòng Sông Hằng, mười hai Do Tuần, và về phía nam thành Xá vệ ba mươi Do Tuần. Cứ theo Tương ứng bộ 13 kinh 33 văn Pāli tường thuật, thì Trưởng giả Ha đa a La Bà (Hatthaka Àơavak) từng là công dân nước này. Lại cứ theo kinh A La Hán cụ đức chép, thì Trưởng giả Hạ tất đa ca (Ha đa a La Bà) và A tra phạ ca cùng ở nước A la ti. Cứ theo Tăng Chi Bộ 8 kinh 23 văn Pāli chép, thì khi đức Phật ở chùa A Ca La ngõa, trưởng giả Hạ tất ca tán dương đức Thế Tôn có đủ tám pháp chưa từng có. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 27 chép, thì nước A la tì khí hậu lạnh lẽo, lại nhiều cỏ tật lê, khi đức Phật ngồi, nằm không lấy thế làm khó chịu. Thầy của Bà Kì Xá (Pāli: Vagìsa) là Ni cù đà kiếp ba (Pāli: Nigrodha Kappa) qua đời tại chùa A Ca La ngõa, Bà Kì Xá bèn hỏi đức Phật về nơi đi đến của thầy mình sau khi chết, việc này được chép trong kinh Trưởng lão kệ nói trên. Ngoài ra, giới cấm đào đất thứ 10, giới cấm chặt cây thứ 11 trong chín mươi hai Ba Dật Đề, chính đã được chế định tại nước này. Lí do: các tỉ khưu ở chùa A Ca La ngõa, để cất nhà cửa, bèn tự mình đào đất, và sai người đào đất, chặt cây đến nỗi bị chê trách. Các sự tích về nước A la tì cũng còn được thấy trong kinh Trưởng lão ni kệ (Pāli: Therì-gàthà, Tăng Chi Bộ 8 kinh 24, Tương ứng bộ 10 kinh 12, kinh Tạp a hàm quyển 45, kinh Biệt dịch tạp a hàm quyển 13, luật Ngũ Phần, luật Thập tụng, luật Ma Ha Tăng Kì, và Hữu Bộ tì nại da v.v...