Vô Ngã

《無我》 wú wǒ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: nirātman, nairātmya, Pāli: anattan: hay còn gọi là Phi Ngã () từ dùng để thể hiện sự phủ định đối với ngã (Sanskrit: ātman, , tôi, cái tôi), nghĩa là không có cái tôi, không có tôi, không chấp nhận Thật Ngã Thật Pháp, không đứng trên Bản Thể hay thật thể mang tính hình nhi thượng học và không có sự chấp trước về ngã. Đối với Phật Giáo Nguyên Thủy thì không chấp nhận cái ngã Chủ Tể thường hằng Duy Nhất cũng như sự tồn tại của thật thể mà như hàng Ngoại Đạo đã từng tuyên thuyết, mà cho rằng hết thảy sự vật, Hiện Tượng đều Vô Ngã, cho nên thuật ngữ nổi tiếng là Chư Pháp Vô Ngã (Pāli: sabbe dhammā anattā, , các Pháp Không có thật thể) đã được phổ cập hóa. Cho nên trong Kinh A Hàm thì Năm Uẩn, Mười Hai Xứ, Mười Tám Giới, v.v., đều được xem là giả có, là những cái không có ngã thật thể của chúng. Bên cạnh đó, để Đối Trị với bốn pháp làm cho Điên Đảo là Tịnh, Lạc, Ngã, Thường, trong Phật Giáo đã thuyết ra Bốn Niệm Xứ gồm Bất Tịnh (, thân), Khổ (, thọ), Vô Ngã (, pháp) và Vô Thường (, tâm).