Vân Lộ

《雲路》 yún lù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: đường mây; có mấy nghĩa khác nhau. (1) Giữa khoảng mây, trên trời. Như trong bài thơ Du Nhiếp Sơn Thê Hà Tự () của Giang Tổng (, 519-594) nhà Tùy có câu: “Yên nhai khế cổ thạch, Vân Lộ bài chinh điểu (, khói núi nghỉ đá cổ, trên trời chim bay xa).” (2) Con đường trên trời, con đường tiên bay. Như trong Thủy Kinh Chú (), phần Miện Thủy Thượng (), của Lịch Đạo Nguyên (, 470-527) nhà Bắc Ngụy, có đoạn: “Công Phòng thăng tiên chi nhật, tế chi hành vị hoàn, Bất Hoạch đồng giai Vân Lộ (婿, ngày Công Phòng lên cõi tiên, người con rễ đi chưa về, không được cùng bước lên đường trời).” (3) Chỉ con đường hẹp trên núi cao. Như trong bài thơ Tặng Ích Phủ Bùi Lục Sự () của Lô Chiêu Lân (, 636-695) nhà Đường có câu: “Thanh sơn Vân Lộ thâm, đơn hác nguyệt hoa lâm (, núi xanh nẻo mây sâu, hang đỏ trăng điểm hoa).” (4) Chỉ lộ trình xa xôi, mù mịt. Như trong bài thơ Đăng Phục Châu Nam Lâu () của Tiền Khởi (, 710-782) nhà Đường có câu: “Cố nhân Vân Lộ cách, hà xứ ký Dao Hoa (, cố nhân đường mây cách, chốn nào trọ Dao Hoa [tức Ngọc Hoa Cung]).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 3, phần Tiểu Tường (), lại có đoạn: “Dục tư ngô phụ chi Vân Lộ, tu bằng ngã Phật chi phong quy (, muốn giúp thân phụ lên đường mây, nên nương đức Phật ấy phong quy).”