Tứ Minh Tri Lễ

《四明知禮》 sì míng zhī lǐ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Shimei Chire, 960-1028: vị tăng của Thiên Thai Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Tứ Minh (, Tỉnh Triết Giang), họ Kim (), tự là Ước Ngôn (). Năm lên 7 tuổi, ông đã để tang mẹ, bèn Phát Nguyện Xuất Gia, và năm 15 tuổi thì thọ Cụ Túc Giới, chuyên tâm nghiên cứu về Luật tạng. Năm 20 tuổi, ông theo Bảo Vân Nghĩa Thông () học giáo điển Thiên Thai, được 1 tháng sau thì có thể giảng Tâm Kinh được. Vào năm thứ 2 (991) niên hiệu Thuần Hóa (), ông đến trú trì Càn Phù Tự (). Đến năm đầu (995) niên hiệu Chí Đạo (), ông chuyển đến sống ở Bảo Ân Viện () thuộc Tứ Minh Sơn (). Vào năm thứ 2 (1009) niên hiệu Tường Phù (), công việc trùng kiến ngôi Bảo Ân Viện được hoàn thành, và năm sau thì được ban sắc ngạch chùa là Diên Khánh Tự (). Chính nơi đây ông đã chuyên tâm Sám Hối trong vòng hơn 40 năm và học chúng theo ông rất đông. Ông là nhân vật trung tâm của Phái Sơn Gia (), đối lập với hệ thống Phái Sơn Ngoại () của Ngộ Ân () và các môn hạ của nhân vật này như Hồng Mẫn (), Nguyên Thanh (), Trí Viên (), Khánh Chiêu (), v.v., trong vòng 40 năm trường. Cả hai phái này kéo dài luận tranh và phần lớn các nghị luận đều do Tri Lễ làm ra và những văn thư trao đổi qua lại giữa hai phái này được thâu lục vào trong Thập Nghĩa Thư (), Quán Tâm Nhị Bách Vấn (), v.v. Trong đó tác phẩm tiêu biểu là Thập Bất Nhị Môn Chỉ Yếu Sao (), ngoài ra còn có một số bản chú sớ về các tác phẩm của Trí Khải (). Môn hạ của ông chia thành 3 dòng, hưng thịnh qua các triều Đại Không hề dứt tuyệt. Vua Chơn Tông nhà Tống cảm niệm Công Đức của ông, bèn tặng cho hiệu là Pháp Trí Đại Sư (). Sau này ông được tôn xưng là vị tổ thứ 17 của Thiên Thai Tông. Vì ông thường trú tại Tứ Minh Diên Thọ Tự, nên người đời thường gọi ông là Tứ Minh Tôn Giả (), Tứ Minh Đại Sư (). Vào năm thứ 6 niên hiệu Thiên Thánh (), ông niệm A Di Đà Phật mấy trăm biến rồi An Nhiên Thị Tịch, hưởng thọ 69 tuổi. Bình sanh ông tập trung vào việc trước tác, giảng diễn và Sám Hối, kể từ năm thứ 2 (999) niên hiệu Hàm Bình (), ông giảng Pháp Hoa Huyền Nghĩa () 7 lần, Pháp Hoa Văn Cú () 8 lần, Ma Ha Chỉ Quán () 8 lần, Đại Niết Bàn Kinh () 1 lần, Tịnh Danh Kinh Sớ () 2 lần, Kim Quang Minh Kinh Huyền Sớ () 10 lần, Quan Âm Biệt Hành Huyền Sớ () 7 lần, Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ () 7 lần, v.v. Môn Đồ của ông có rất nhiều, trong đó có những nhân vật xuất chúng như Thượng Hiền (), Bổn Như (), Phạn Trăn (), v.v. Trước tác của ông để lại có Kim Quang Minh Kinh Văn Cú Ký (), Giải Báng Thư (), Đại Bi Sám Pháp (), Tu Sám Yếu Chỉ (), Quang Minh Sám Nghi (), Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Dung Tâm Giải (), Quán Âm Biệt Hành Huyền Nghĩa(), Quán Âm Biệt Hành Sớ Ký (), Thích Thỉnh Quán Âm Sớ Trung Tiêu Phục Tam Dụng (), Vấn Mục Nhị Thập Thất Điều Đáp Thích (), Nhị Thập Vấn (), Biệt Lý Tùy Duyên Nhị Thập Vấn (), v.v.