Truyền Pháp

《傳法》 chuán fǎ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: về nghĩa rộng, chỉ cho việc truyền thọ Phật Pháp; về nghĩa hẹp, đặc biệt chỉ sự truyền thừa pháp mạch, hoặc nghi thức truyền trao chánh pháp. Đối với Mật Giáo, phép Quán Đảnh truyền thọ Bí Pháp được gọi là Truyền Pháp Quán Đảnh (). Người chỉ dạy cho Bí Pháp được gọi là Truyền Pháp A Xà Lê (). Thiền Tông đặc biệt rất xem trọng việc Truyền Pháp, thông thường lấy việc truyền trao y Ca Sa (Sanskrit: kaṣāya; Pāli: kāsāya ) làm tượng trưng cho việc truyền trao chánh pháp. Xưa nay, việc truyền y nghĩa là lấy y Kim Lan () làm Pháp Y (), chủ yếu thể hiện tín vật Truyền Pháp. Đến sau này, các bậc tông tượng Thiền Tông chỉ lấy y Ca Sa bình thường để truyền cho Đệ Tử nối dòng pháp; cho nên từ Truyền Y () được chuyển thành Truyền Pháp (), Từ Pháp (). Tịnh Độ Giáo Nhật Bản lấy pháp Ngũ Trùng Tương Truyền () làm chứng minh cho việc truyền trao pháp mạch. Trong bài thơ Bà Dương Đại Vân Tự Nhất Công Phòng () của Cố Huống (, khoảng 725-814) nhà Đường có câu: “Sắc Giới liêu Truyền Pháp, Không Môn bất dụng tình (, cõi trần tạm Truyền Pháp, cửa Không chẳng nể tình).” Trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (宿, tục tạng kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 29 có dẫn lời nói nổi tiếng của Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma rằng: “Ngô bổn lai tư độ, Truyền Pháp cứu Mê Tình, nhất hoa khai Ngũ Diệp, kết quả tự nhiên thành (, ta vốn đến cõi này, Truyền Pháp cứu Mê Tình, một hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành).”