Trùng Tang

《重喪》 zhòng sàng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: chỉ cho ngày tháng năm sinh của người mất trùng khớp với Can Chi giờ ra đi của người mất, được gọi là “nhật bất thanh (, ngày không sạch, ngày không tốt).” Theo quan niệm từ ngàn xưa của Trung Quốc cũng như Việt Nam, khi có Trùng Tang thì sẽ bị “liên táng ()”, tức người chết xảy ra liên tục, đặc biệt là những thân nhân của người quá cố. Các ngày được xem như là “Trùng Tang nhật (, ngày Trùng Tang)” tối kỵ gồm: ngày Giáp tháng giêng, ngày Ất tháng 2, ngày Mậu tháng 3, ngày Bính tháng 4, ngày Đinh tháng 5, ngày Kỷ tháng 6, ngày Canh tháng 7, ngày Tân tháng 8, ngày Mậu tháng 9, ngày Nhâm tháng 10, ngày Quý tháng 11 và ngày Kỷ tháng
12. Cho nên, để cầu cho người sống được bình an, tốt đẹp, ngày nhập liệm, an táng cần phải chọn thật kỹ lưỡng. Theo tác phẩm Nghi Lễ của Tác Giả Thích Hoàn Thông cho biết rằng các giờ Trùng Tang liên táng rất xấu, nên tránh, gồm: tuổi Thân, Tý, Thìn chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Tỵ; tuổi Dần, Ngọ, Tuất chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Hợi; tuổi Tỵ, Dậu, Sửu chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Dần; tuổi Hợi, Mão, Mùi chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Thân. Khi nhập liệm, an táng cũng như cải táng cần phải tránh các giờ nêu trên. Bên cạnh đó, có các giờ tốt nên chọn để nhập liệm như ngày Tý nên dùng giờ Giáp, Canh; ngày Sửu là giờ Ất, Tân; ngày Dần là giờ Đinh, Quý; ngày Mão là giờ Bính, Nhâm; ngày Thìn là giờ Giáp, Đinh; ngày Tỵ là giờ Ất, Canh; ngày Ngọ là giờ Đinh, Quý; ngày Mùi là giờ Ất, Tân; ngày Thân là giờ Giáp, Quý; ngày Dậu là giờ Đinh, Nhâm; ngày Tuất là giờ Canh, Nhâm; Ngày Hợi nên dùng giờ Ất, Tân.