Trinh Khánh

《貞慶》 zhēn qìng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Jōkei, 1155-1213: vị Tăng của Pháp Tướng Tông, sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, húy là Trinh Khánh (), thường được gọi là Lạp Trí Thượng Nhân (), Thị Tùng Dĩ Giảng (), hiệu là Giải Thoát Phòng (), húy là Giải Thoát Thượng Nhân (); xuất thân vùng Kyoto, con của quan Quyền Hữu Trung Biện Đằng Nguyên Trinh Hiến (). Năm lên 8 tuổi, ông đến Hưng Phước Tự (, Kōfuku-ji), theo học Pháp Tướng và Luật với người chú của mình là Giác Hiến (). Năm 1172, ông được Thật Phạm ()Đề Hồ Tự (, Daigo-ji) thuộc vùng Sơn Thành (, Yamashiro) truyền thọ cho Hư Không Tạng Cầu Văn Trì Pháp (). Năm 1182, ông làm việc cho Hội Duy Ma, rồi đến năm 1186 thì làm Giảng Sư của hội này, từ đó về sau thỉnh thoảng ông có xuất hiện giảng diễn ở các Ngự Trai Hội hay Tối Thắng Giảng, v.v. Năm 1193, ông trở về ẩn cư ở Lạp Trí Tự () thuộc vùng Sơn Thành, rồi đến năm 1196 thì thiết lập Bát Nhã Đài để an trí bộ Đại Bát Nhã Kinh mà ông đã bỏ hết thời gian 11 năm trường biên chép nên, rồi đến năm 1204 thì lập ra Hoa Long Hội và tuyên dương Tín Ngưỡng Di Lặc. Năm sau, ông tâu thỉnh lên triều đình để đình chỉ việc Chuyên Tu Niệm Phật của Nguyên Không (, Genkū, tức Pháp Nhiên). Đến năm 1208, ông tái hưng Hải Trú Sơn Tự (), rồi năm 1212 thì kiến lập Thường Hỷ Viện ()Hưng Phước Tự, bắt đầu giảng về Luật và tận lực phục hưng Giới Luật. Trước tác của ông có Ngu Mê Phát Tâm Tập () 3 quyển, Khuyến Dụ Đồng Pháp Ký () 1 quyển, Di Lặc Giảng Thức () 1 quyển, Quan Âm Giảng Thức () 1 quyển, Hưng Phước Tự Tấu Trạng () 1 tờ, Thành Duy Thức Luận Tầm Tư Sao () 1 quyển, Tâm Yếu Sao () 1 quyển, v.v.