Trâm Anh
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: cây trâm và giải mũ, chỉ cho đồ trang sức trên mũ quan thời xưa, về sau nó được mượn dùng để chỉ cho những cao quan hiển hách công trạng. Trong bài Thiếu Niên Hành (少年行) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Già mạc Nhân Thân liên đế thành, bất như đương thân tự Trâm Anh (遮莫姻親連帝城、不如當身自簪纓, giá tưởng Thân Thích với đế vương, chẳng bằng thân mình tự làm quan).” Hay như trong bài Tặng Bộc Xạ Trịnh Quốc Công Nghiêm Công Võ (贈左僕射鄭國公嚴公武) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường cũng có câu: “Không dư lão tân khách, thân thượng quý Trâm Anh (空余老賓客、身上愧簪纓, Rảnh rang lão khách quý, thân mình thẹn chức quan).” Thiền Sư Quảng Trí (廣智, ?-1091) của Việt Nam cũng có bài thơ liên quan đến Trâm Anh như sau: “Trú tích nguy phong bãi lục trần, mặc cư huyễn mộng vấn Phù Vân, ân cần vô kế tham Trừng Thập, sách bạn Trâm Anh tại lộ quần (拄錫危峰擺六塵、默居幻夢問浮雲、殷勤無計參澄什、索絆簪纓在鷺群, chống gậy non cao bỏ sáu trần, ở yên huyễn mộng hỏi Phù Vân, ân cần không cách tham Trừng Thập, trót vướng bầy cò lớp mũ cân).” Câu “Phiệt Duyệt Trâm Anh (閥閱簪纓)” có nghĩa là gia đình cao quan quyền quý, có công trạng hiển hách.