Trác Tích
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: trác (卓) nghĩa là dựng đứng, tích (錫) là Tích Trượng (Sanskrit: khakkhara, khakharaka, 錫杖), một trong 18 vật thường dùng của chư tăng; Trác Tích nghĩa là chống cây Tích Trượng mà đứng; từ đó nó có chỉ cho vị tăng Du Hành dừng chân trú ở một nơi nào đó. Như trong bài thơ Lăng Già Cổ Mộc (楞伽古木) của Trương Bá Thuần (張伯淳, 1242-1302) nhà Nguyên có câu rằng: “Đạo Lâm Trác Tích cựu chủng thử, phảng phất ư kim bát bách niên (道林卓錫舊種此、髣髴於今八百年, Đạo Lâm dừng chân trồng cây ấy, mịt mờ nay đã tám trăm năm).” Hay trong chương Tây Tăng (西僧) của Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異) do Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh sáng tác có đoạn: “Tây tăng tự Tây Vức lai, nhất phó Ngũ Đài, nhất Trác Tích Thái Sơn (西僧自西域來,一赴五臺,一卓錫泰山, chư tăng từ Tây Vức đến, một vị lên Ngũ Đài Sơn, một vị dừng chân trú tại Thái Sơn).” Trong bài Lục Tổ Trác Tích Tuyền Minh (六祖卓錫泉銘) của thi hào Tô Thức (蘇軾, 1036-1101) có ghi lại việc khi đang trú tại Tào Khê (曹溪), Lục Tổ Huệ Năng (慧能, 638-713) đã từng chống Tích Trượng trên mặt đất và xảy ra chuyện thần kỳ: “Lục Tổ sơ trú Tào Khê, Trác Tích tuyền dũng, thanh lương hoạt cam, thiệm túc đại chúng, đãi kim sổ bách niên hỉ (六祖初住曹溪、卓錫泉湧、清涼滑甘、贍足大眾、逮今數百年矣, Lục Tổ khi mới đến trú ở Tào Khê, chống Tích Trượng xuống đất làm cho suối phun nước lên, trong mát ngọt dịu, cấp đủ cho đại chúng dùng, cho đến nay đã mấy trăm năm rồi).” Từ đó, Trác Tích còn chỉ cho trú xứ của chư tăng. Trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 28 có câu: “Tổ khai pháp Vạn Phong, Tổ Trác Tích Tô Châu Đặng Úy Sơn, Nạp Tử bôn tập, toại thành Tùng Lâm (祖開法萬峰、祖卓錫蘇州鄧尉山、衲子奔集、遂成叢林, Tổ khai pháp ở Vạn Phong, Tổ trú tại Đặng Úy Sơn, Tô Châu, chúng tăng tập trung về rất đông, cuối cùng thành tòng lâm).”