Tông Pháp

《宗法》 zōng fǎ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Tiếng dùng trong Nhân Minh. Trong luận thức Nhân Minh, Hữu Pháp (chủ từ) của Tông (mệnh đề) được gọi là Tông Pháp, tức là tên khác của Tiền Trần (chủ từ). Đối lại với Tiền Trần thì Pháp là tên khác của Hậu Trần (Tân từ) trong Tông. Tiền TrầnHậu Trần đối với cả mệnh đề của tông mà nói thì Hữu Pháp là Thể, còn Pháp là nghĩa. Một Thể có nhiều nghĩa, như âm thanh ngoài tính chất vô thường, còn có nghĩa là sở văn (cái được nghe), Nghĩa Sở tác (cái được làm ra). Vì thế, suy rộng ra, hễ cái gì thuộc về nghĩa của Thể này đều có thể gọi là Pháp. Nếu người lập luận lấy đó làm Nhân (lí do) thì cái ấy phải là Tông Pháp. Như lập luận thức sau đây: Tông:Âm thanh là vô thường. Nhân:Vì nó là cái được tạo ra. Cái được tạo ra vốn là nghĩa có trong âm thanh của Hữu Pháp, là Tông Pháp, cho nên có năng lực dùng để chứng minh. Nếu dùng Vì là cái mà mắt thấy làm Nhân thì âm thanh chẳng phải là cái mà mắt thấy được, âm thanh không có nghĩa do mắt thấy, cho nên cái mà mắt thấy chẳng phải Tông Pháp. Những cái mà mắt thấy tuy đều là vô thường, nhưng âm thanh vốn chẳng phải là cái mà mắt thấy, cho nên cũng không thể dùng cái mà mắt thấy để đoán định âm thanh cũng là vô thường. Loại Nhân này vừa không thể chứng minh âm thanh là vô thường mà cũng không thể chứng minh âm thanh là Thường Trụ, vì thế nó chẳng phải là Tông Pháp và không thể dùng nó làm Nhân. Hậu Trần vô thường trong Tông cũng bao hàm pháp âm thanh của Hữu Pháp, cho nên cũng có thể gọi là Tông Pháp. Để Phân Biệt, thông thường gọi Tông Pháp nói trong Tông là pháp Sở Lập, còn gọi Tông Pháp nói trong Nhân là pháp Năng Lập. Nếu nói theo sự quan hệ giữa Nhân và Tông thì Nhân là Năng Lập, còn Tông là Sở Lập. Cho nên nói theo Thí Dụ thực tế người ta quen dùng: Âm thanh là vô thường, vì nó do sự tác động mà có thì vô thường là pháp Sở Lập, còn do sự tác động mà có là pháp Năng Lập. [X. luận Nhân Minh nhập chính lí; Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Ngộ Tha môn thiển thích (Trần đại tề)].