Tôn Thắng Đà La Ni

《尊勝陀羅尼》 zūn shèng tuó luó ní

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Uwịìwa-vijaya-dhàraô. Gọi đủ: Tịnh trừ Nhất Thiết Ác Đạo Phật đính tôn thắngđàlani. Cũng gọi: Thanh tịnh chư thú Phật đính tôn thắngđàlani, Nhất Thiết Nhưlai ôsắt nịsa tối thắng Tổng Trì, Phật đính tôn thắng đàlani, Diên thọđàlani, Thiện Cát Tường đàlani. Đàlani nói về Công Đức Nội Chứng của Tôn thắng Phật đính tôn. Đà lani này do đức Phật nói để cứu với Thiên tử Thiện trụ, vì Nghiệp Báo, sắp phải sinh làm thân Súc Sinh 7 lần trong đường ác. Cứ theo kinh Phật đính Tôn Thắng Đà La Ni do ngài Phật Đà Ba Lợi dịch thì Đà La Ni này có năng lực tiêu trừ tất cả Tội Chướng, phá diệt tất cả khổ trong Ác Đạo ô uế. Đà La Ni này gồm 87 câu, xét về độ dài thì thuộc loại Đạichú. Nếu Thụ Trì, viết chép, cúng dường, đọc tụng Đà La Ni này, hoặc an trí trên tháp, cột cao, lầu gác... thì được các Công Đức như tất cả Ác Đạo đều thanh tịnh, tiêu trừ Tội Chướng, tăng thêm tuổi thọ, Vãng Sanh Cực Lạc.. Người tu theo Mật giáo thường sớm tối đọc tụng, hoặc đọc tụng khi Hồi Hướng vong linh người chết. Đà La Ni này cũng thường được tụng niệm trong các thời khóa của Thiền Tông. Tại Trung Quốc, Nhật bản có rất nhiều người tin nhận và trì tụng Đà La Ni này và rất Linh Nghiệm. Năm 1884, học giả Nan điều Vănhùng người Nhậtbản đã đối chiếu, sửa chữa bản lá bối ở chùa Pháp long, bản ghi trong A xoalathiếp, bản chép tay do ngài Tịnh Nghiêm chùa Linh vân giáo đính, bản dập văn bia ở chùa Thiển thảo và Bátnhãtâm kinh bằng tiếng Phạm đều được thu vào necdota Oxoniensia, Aryan Series. Vol
1. PartIII và xuất bản. [X. Gia cú Linh Nghiệm Phật đính Tôn Thắng Đà La Ni kí; Nhật Bản Phật Giáo sử chi nghiên cứu 3; Tôn Thắng Đà La Ni chi nghiên cứu (Địch Nguyên Vân Lai, Mật giáo 2)].