Tịnh Chúng Tông

《淨衆宗》 jìng zhòng zōng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Tịnh chúng phái. Tên một Tông Phái Thiền ở Trung Quốc vào thời kì đầu do ngài Vôtướng (684-762) khai sáng vào đời Đường tại chùa Tịnh chúng(cũng do ngài Vôtướng sáng lập), phủ Thành đô, tỉnh Tứ xuyên. Tông Chỉ của phái thiền này là 3 từ ngữ: Vô ức (không nhớ), Vô niệm (không nghĩ) và Mạc vong(chớ quên), được phối hợp với 3 Học Xứ: Giới, Định và Tuệ, khuyên răn người học chớ nhớ lại Quá Khứ, chớ nghĩ trước vị lai và chớ quên lúc nào cũng phải tương ứng với trí này (trí vô ức, vô niệm). Trong 3 từ ngữ trên, quan trọng nhất là Vô niệm. Ngài Vô Tướng rất coi trọng Pháp Nghi Lễ Tán Trang Nghiêm, nên đã phỏng theo Hành Nghi Thụ Giới Cụ Túc của quan đàn để kiến lập Đạo Tràng, dạy chúng tăng theo tiếng Niệm Phật để thôi nghĩ. Pháp hệ của phái này, trên thừa kế chư tổ Hoằngnhẫn, Trítân, Xửtịch, dưới truyền đến ngài Bảođường Vôtrụ. Một Đệ Tử khác của ngài Vôtướng là ngài Thần Hội ở chùa Tịnh chúng, Truyền Pháp cho các vị Nam ấn, Đạoviên, ngài Khuêphong Tông mật cũng kế thừa hệ thống này. Lại một vị Đệ Tử nữa là ngài Thầnthanh ở chùa Tuệ nghĩa, soạn Bắc Sơn Lục, nói về sự quan hệ giữa Tam Giáo. [X. Tống Cao Tăng Truyện Q. 19.; Thiền Môn Sư Tư Thừa Tập Đồ; Viên Giác kinh đại sớ sao Q. 3. hạ; Đốn Ngộ Đại Thừa chính lí quyết; Thiền Học tư tưởng sử thượng (Hốt Hoạt Cốc Khoái Thiên)]. (xt. Vô Tướng).