Tín Hành

《信行》 xìn xíng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Shingyō, 540-594: vị tăng sống dưới thời nhà Tùy, tổ của Tam Giai Giáo (), còn gọi là Tam Giai Thiền Sư (), người Quận Ngụy (, thuộc An Dương [], Hà Nam []), họ Vương (), lúc nhỏ đã có trí tuệ xuất chúng. Sau khi Xuất Gia, ông thông hiểu các kinh, được vua Văn Đế nhà Tùy thỉnh mời đến ở Trường An. Ông chủ trương thời đại của đức Thích Ca là thời đại Chánh Pháp, kế đến thời đại thọ nhận giáo pháp là thời Tượng Pháp. Có nghĩa rằng hiện tại (thời nhà Tùy) đã kinh qua thời đại Chánh và Tượng Pháp, gặp lúc Phật Giáo suy vong, cho nên ông chủ xướng ra 3 giai đoạn, gọi là Tam Giai Phật Giáo. Ông cho rằng người hiện đời hoặc thiên về Nhất Thừa, hay Tam Thừa, hoặc niệm Di Đà, hay Niệm Pháp Hoa, thường thích cái này ghét cái kia. Cho nên ông chủ trương cùng mọi người lao động, một ngày một bữa ăn. Do nhân cách thanh khiết, giáo thuyết lại dễ hiểu nên số lượng Tín Đồ theo rất đông. Đến thời nhà Đường, Đệ Tử là Tín Nghĩa () thiết lập kho bạc cho dân lành, gọi là Vô Tận Tạng Viện, để làm Lợi Ích cho dân chúng. Trong khoảng thời gian từ năm thứ 20 (600) niên hiệu Khai Hoàng () nhà Tùy cho đến năm thứ 13 (725) niên hiệu Khai Nguyên () nhà Đường, phái này trãi qua 4 lần bị cấm chế và áp bức, sau vụ loạn An Sử () thì dần dần tiêu vong. Vào tháng giêng năm thứ 13 (594) niên hiệu Khai Hoàng (), ông Thị Tịch, hưởng thọ 55 tuổi. Trước tác của ông có Tam Giai Vị Biệt Tập Lục () 3 quyển, Đối Căn Khởi Hành Tạp Lục () 33 quyển, Tam Giai Phật Pháp () 4 quyển, v.v.