Tiên Ngự
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: có ba nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho con hạc do Tiên Nhân cỡi đi. Như trong bài thơ Đáp Giả Chi Sứ Ký Hạc (答賈支使寄鶴) của Tiết Năng (薛能, ?-?) nhà Đường có câu: “Thụy vũ kỳ tư lượng thương hình, xưng vi Tiên Ngự quá Thanh Minh (瑞羽奇姿踉蹌形、稱爲仙馭過青冥, lông đẹp dáng kỳ bước loạng choạng, xưng là tiên hạc qua trời xanh).” (2) Xưa kia cho rằng người chết đi là cỡi hạc rong chơi cõi tiên, nên gọi là Tiên Ngự. Như trong bài Đại Hành Hoàng Thái Hậu Vãn Ca Từ (大行皇太后輓歌詞) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có câu: “Vân tùy Tiên Ngự viễn, phong trợ thánh tình ai (雲隨仙馭遠、風助聖情哀, mây theo tiên hạc đi xa, gió thêm buồn bã bao la thánh tình).” (3) Chỉ cho xa giá của Hoàng đế. Như trong bài thơ Phú Thu Nhật Huyền Thanh Quang Tứ Phòng Huyền Linh (賦秋日懸清光賜房玄齡) của vua Thái Tông (太宗, tại vị 626-649) nhà Đường có câu: “Tiên Ngự tùy luân chuyển, linh ô đới ảnh phi (仙馭隨輪轉、靈烏帶影飛, xe vua theo bánh chuyển, quạ thiêng cỡi bóng bay).” Trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 17 cũng có câu: “Ngũ thất tiến nghiêm Hoàng Thái Hậu, vị tri Tiên Ngự vãng hà phương (五七薦嚴皇太后、未知仙馭往何方, ngũ tuần hiến cúng Hoàng Thái Hậu, chưa hay tiên hạc về chốn nào).”