Thùy Thu
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: đến gần mùa Thu, tức chỉ cho sự tàn lụi, băng hoại, suy tàn, thời Mạt Pháp. Phật Pháp Thùy Thu (佛法垂秋) nghĩa là đang thời kỳ Mạt Pháp. Như trong Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562) quyển 6 có câu: “Tượng Pháp Thùy Thu, Danh Lợi căn thâm, như tượng một thâm nê, châu trầm cự hải (像法垂秋、名利根深、如象沒深泥、珠沉巨海, thời Tượng Pháp sắp tàn, gốc Danh Lợi sâu nặng, như voi lún bùn sâu, hạt châu chìm biển lớn).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 13 có đoạn: “Thiết niệm đạo pháp Thùy Thu, chánh tông đạm bạc, lại ngô sư thừa Đại Bi Nguyện luân, cao thụ Pháp Tràng, tông thuyết kiêm sướng, Chỉ Quán song vận, Tỳ Ni độc yết, Tịnh Độ chuyên môn, sử cuồng tử tri quy (切念道法垂秋、正宗澹薄、賴吾師乘大悲願輪、高豎法幢、宗說兼暢、止觀雙運、毗尼獨揭、淨土專門、使狂子知歸, thiết nghĩ đạo pháp lu mờ, chánh tông phai nhạt, nhờ Thầy ta nương bánh xe nguyện Đại Bi, dương cao cờ pháp, Tông Môn và giáo thuyết cùng tuyên xướng, Chỉ và Quán đều vận hành, Luật nghi xem trọng, Tịnh Độ chuyên môn, khiến cho người con điên biết quay về).” Hay như trong Sa Di Luật Nghi Tỳ Ni Nhật Dụng Hợp Tham (沙彌律儀毗尼日用合參, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1120) có câu: “Cao Tăng dĩ Phật Pháp vi kỷ nhiệm, cố văn ngọ hậu cử thoán, tri pháp vận Thùy Thu, cố thế khấp nhi bi thán dã. Kim Nhân thể nhược đa bệnh, dục số số thực giả, hoặc bất Năng Trì thử giới; cố cổ nhân xưng vãn thực vi Dược Thạch, thủ liệu bệnh chi ý dã (高僧以佛法爲己任、故聞午後舉爨、知法運垂秋、故涕泣而悲嘆也、今人體弱多病、欲數數食者、或不能持此戒、故古人稱晚食爲藥石、取療病之意也, vị Cao Tăng lấy pháp Phật làm trách nhiệm của mình, nên sau buổi trưa nghe nấu ăn, mới biết vận thế Phật Pháp suy tàn, vì vậy rơi lệ mà buồn than vậy. Người đời nay Thân Thể suy yếu nhiều bệnh, muốn ăn nhiều lần, nên không thể giữ giới này được, vì vậy người xưa gọi buổi ăn chiều là Dược Thạch, với ý để trị bệnh vậy).”