Thục Thủy Chi Hoan

《菽水之歡》 shū shuǐ zhī huān

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: thục thủy () là đậu hòa với nước, món ăn rất tầm thường, đạm bạc, hình dung sinh hoạt đơn sơ, thanh đạm. Như trong phần Đàn Cung Hạ () của Lễ Ký () có đoạn rằng: “Tử Lộ viết: 'Thương tai ! Bần tai ! Sanh vô dĩ vi dưỡng, tử vô dĩ vi lễ dã.' Khổng Tử viết: 'Xuyết thục ẩm thủy tận kỳ hoan, tư chi vị hiếu' (:!!:, Tử Lộ nói rằng: 'Thương thay ! Nghèo thay ! Cha mẹ sống không có gì để nuôi dưỡng, chết chẳng lấy gì để cúng lễ.' Khổng Tử dạy: 'Mút đậu uống nước mà vui vẻ đến tột cùng, đó chính là hiếu').” Cho nên, người ta thường dùng câu “Thục Thủy Chi Hoan” hay “thục thủy thừa hoan ()” để ví dụ cho người con gái hiếu thuận, hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, tuy thức ăn thô sơ, đạm bạc, nhưng cũng có thể làm cho cha mẹ vui lòng với tất cả tâm hiếu kính của mình. Như trong Tỳ Bà Ký (), phần Thái Trạch Chúc Thọ () của Cao Minh (, 1305-1368) nhà Nguyên có đoạn rằng: “Nhập tắc hiếu, xuất tắc để, chẩm ly bạch phát chi song thân, đáo bất như tận Thục Thủy Chi Hoan (, vào thì hiếu, ra thì thuận, sao rời được song thân bạc đầu, không gì bằng tận hưởng niềm vui ăn món đạm bạc [hiếu kính]).”