Thuận Quán
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Tức theo thứ tự thuậnmàquán xét 12 Nhân Duyên, 4 Thánh Đế, 32 tướng của Phật... gọi là Thuận Quán. Trái lại, nếu quán theo thứ tự ngược thì gọi là Nghịch Quán. Đức Thích tôn nhờ Thuận Quán, Nghịch Quán 12 Nhân Duyên mà khai ngộ. Theo sự giải thích của luận Đại tì Bà Sa thì Thuận Quán là từ Vô Minh quán đến Lão Tử, cững tức là từ nhân tới quả quán theo thứ tự thuận. Còn Nghịch Quán thì từ Lão Tử quán đến Vô Minh, tức từ quả tới nhân quán theo thứ tự ngược. Ngoài ra, Quán Tưởng 32 tướng của đức Phật từ đầu đến chân, gọi là Thuận Quán; trái lại, Quán Tưởng từ chân đến đầu thì gọi là Nghịch Quán. Trong Mật giáo, từ chữ A vốn chẳng sinh quán đến các Pháp Không có nhân, gọi là Thuận Quán toàn chuyển; từ các Pháp Không nhân quán đến vốn chẳng sinh, gọi là Nghịch Quán toàn chuyển. [X. luận Đại tì Bà Sa Q. 23.; luận Đại Thừa A Tì Đạt Ma tạp tập Q. 4.; Đại Nhật Kinh Sớ Q. 7.; Đại Thừa Nghĩa Chương Q. 4.; Ma Ha Chỉ Quán Q. 2., thượng].