Thử Nguyệt

《暑月》 shǔ yuè

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tên gọi khác của tháng 6, nghĩa là tháng nóng bức, thời tiết oi bức. Như trong Kim Cang Kinh Tân Dị Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1633), phần Thử Thệ Sanh Hương (, trời nắng qua đời có hương thơm) có đoạn: “Một thời thị tật, chánh đương Sùng Trinh Nhâm Thân Thử Nguyệt, khởi cánh y Mộc Dục lễ Phật viết: 'Mỗ nhất sanh kính Phật, quả hữu Phật Duyên, đương linh di thể khí tức bất uế, tùy già phu đoan tọa hiệp chưởng nhi thệ.' Thệ hậu thất nhật nhan sắc hàm tiếu như sanh (歿, trước khi mất thì cáo bệnh, đúng vào tháng 6 năm Nhâm Thân [1632] niên hiệu Sùng Trinh, ngồi dậy lại thay y phục, tắm rửa, lễ Phật và bảo rằng: 'Con một đời kính Phật; nếu quả là có duyên với Phật, xin hãy khiến cho Thân Thể này khi dừng hơi thở thì không ô uế.' Bèn ngồi xếp bằng ngay ngắn, chấp tay mà ra đi, sau khi từ trần được bảy ngày mà nhan sắc vẫn cười hàm tiếu như còn sống).” Hay trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Thuật Nghĩa (, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1119) quyển 1 có câu: “Phùng hà lạc thủy, trì đăng thất hỏa, Thử Nguyệt nhiệt vong, hàn Đông đống tử (, gặp sông rơi xuống nước, cầm đèn thì mất lửa, tháng oi bức chết vì nóng, mùa Đông lạnh thì chết cóng).”