Thổ Đan Gia Mục Thố
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Tạng: Thub-bstan-rgya-mtsho. Cũng gọi A vương la bốc tạng Thổ Đan Gia Mục Thố. Tên vị Đạt lai Lạt Ma đời thứ 13 của Tây tạng. Sư sinh ở vùng Đạt bố lam tại đông nam Lạp Tát (Lha-sa). Năm Quang tự 19 (1893), Trung Quốc, Anh quốc, Tây tạng và Ấn Độ kí kết điều ước bổ sung, đồng ý mở cửa thông thương giữa các quốc gia, thế lực người Anh ở Tây tạng mỗi ngày một tăng, đưa đến việc hiềm khích của người dân Tây tạng, họ rất oán giận triều đình Mãn thanh nhu nhược, bất tài nên có khuynh hướng liên kết với Nga. Đối với Tây tạng và Mông cổ, người Nga vốn đã có dã tâm mượn Danh Nghĩa Đề Xướng Phật giáo, tôn thờ Lạt Ma để gây thế lực ở Tây tạng và Mông cổ. Người Anh biết rõ ý đồ này của người Nga nên nhân dịp chiến tranh giữa Nhật, Nga vào năm 1904, nên viện cớ người Tây tạng bài Anh mà thừa cơ đánh phá Tây tạng. Đạt lai Lạt Ma lánh nạn tại Mông cổ. Sau khi được kho bạc nhà nước nhận bồi thường 70 vạn lượng cho phí tổn chiến tranh, người Anh mới rút quân. Năm Quang tự 34 (1908), theo lời mời của triều đình nhà Thanh, Đạt lai Lạt Ma đến Bắc kinh yết kiến vua, được nhà vua phong hiệu Thuận Tán Hóa Tây Thiên Đại Thiện Tự Tại Phật, hàng năm ban cho lúa gạo, vạn lượng vàng. Niên hiệu Tuyên thống năm đầu (1910), Đạt lai Lạt Ma trở về Lạp Tát (Lha- sa). Đại thần Liên dự (Sứ thần nhà Thanh) ở Tây tạng bất hòa với Đạt lai Lạt Ma, Chung dĩnh đem lục quân tiến vào Tây tạng, Đạt lai Lạt Ma ra lệnh cho quân dân chống lại, quân Tứ xuyên của Triệu nhĩ phong bị tổn thất, triều đình nhà Thanh bèn phái quân đến tiếp viện, quân Tây tạng chống cự không nổi, Đạt lai Lạt Ma phải chạy sang Đạt Lai đời thứ 13Ấn độ, quan lại người Anh thừa cơ trọng đãi sư, mời sư sang thăm nước Anh, triều đình nhà Thanh áp dụng chủ trương của Liên dự bãi bỏ Danh Hiệu Đạt lai đời thứ 13, sai Sứ thần ở Tây tạng đi tìm linh đồng khác để lập Đạt lai Lạt Ma thứ 14, dư luận Thế Giới xôn xao, sự quan hệ giữa Tây tạng và triều đình Thanh trở nên xấu đi. Năm sau, (1911), cuộc cách mệnh Tân hợi bắt đầu nổi lên, Đạt lai tự trở về Tây tạng tuyên bố độc lập, đồng thời phái quân đến biên giới Tứ xuyên, bài xích chính phủ trung ương ở Bắc kinh, thi hành chính sách đóng cửa, nắm toàn quyền chính giáo Tây tạng, từ đó, quan hệ giữa Tây tạng và Trung Quốc lúc cắt đứt, lúc nối lại, không còn mật thiết như trước kia nữa. Năm Dân quốc 22 (1933), Đạt lai Lạt Ma nhập tịch ở Lạp Tát, hưởng thọ 58 tuổi, chính phủ Dân quốc tặng sư Danh Hiệu Hộ Quốc Hoằng Hóa Phổ Từ Viên Giác Đại Sư.[X. Thanh sử cảo Q. 530.; Mông Tạng Phật giáo sử; Mông Tạng tânchí; Tây tạng Lạt Ma Giáo]. (xt. Đạt Lai Lạt Ma).