Thiếu Lâm Tự

《少林寺》 shào lín sì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: còn gọi là Trắc Hỗ Tự (), là ngôi cổ sát nổi tiếng của Trung Quốc, ngôi tổ đình tiếng tăm lừng lẫy của Thiền Tông, nơi phát xuất Công Phu Thiếu Lâm; hiện tọa lạc tại Huyện Đăng Phong (), sườn núi phía Tây Tung Sơn (), Tỉnh Hà Nam (); thuộc một trong Ngũ Nhạc (). Chùa được vua Hiếu Văn Đế (, tại vị 471-499) kiến lập vào năm thứ 19 (495) niên hiệu Thái Hòa () nhà Bắc Ngụy (), cho vị Cao Tăng người Thiên TrúcPhật Đà (). Vị này từng Dịch Kinh ở tại đây, rồi Đạo Phòng (), Đạo Bằng (), hay Phật Quang (), Tăng Trù (), Bồ Đề Lưu Chi (Sanskrit: Bodhiruci, , 562-727), Lặc Na Ma Đề (Sanskrit: Ratnamati, , ?-?), Huệ Viễn (, 523-592) của Tịnh Ảnh Tự (), Huyền Trang (, 602-664), v.v., cũng đã từng dừng chân tại chùa này. Bồ Đề Đạt Ma (Sanskrit: Bodhidharma, ) đã từng quay mặt vào tường chùa 9 năm, và truyền thuyết Huệ Khả (, 487-593) chặt tay dâng cho Đạt Ma để cầo đạo cũng phát xuất từ Thánh địa này. Sau đó, bốn phương Tăng Chúng quy tụ về đây để tu tập theo Thiền Phong của Đạt Ma, nên chùa đã từng một thời cực thịnh. Tuy nhiên, chùa lại gặp phải tai ách Bài Phật Phế Thích của vua Võ Đế (, tại vị 560-578) nhà Bắc Chu (), nên ngôi Già Lam dã bị phá hủy tan tành. Đến thời nhà Tùy, chùa được phục hưng lại, đổi tên thành Trắc Hỗ Tự; song đến thời vua Văn Đế (, tại vị 581-604) nhà Tùy, chùa được đổi tên lại như xưa. Từ thời Nam Bắc Triều (, 420-589) cho đến đầu thời nhà Đường (, 618~907), nơi đây đã từng là căn cứ địa của Đạo Giáo. Vào khoảng cuối niên hiệu Đại Nghiệp (, 605-616), chùa lại bị sơn tặc đốt cháy tan tành, may thay còn sót lại các ngôi linh tháp. Dưới thời nhà Đường, chùa được sự sùng kính của Cao Tông (, tại vị 649-683) cũng như Tắc Thiên Võ Hậu (, tại vị 684-705), nên ngôi Già Lam được trùng hưng, chỉnh đốn lại toàn bộ. Sau đó, đến cuối thời nhà Đường, do vì loạn Ngũ Đại mà chùa lại bị suy vong; nhưng vào năm 1245, vâng mệnh vua Thế Tổ (, tại vị 1260-1294) nhà Nguyên; Tuyết Đình Phước Dụ (, 1203-1275) đến trú trì nơi đây và phục hưng lại chùa rất nhiều. Đệ Tử ông có có các vị đã từng trú trì tại đây như Linh Ẩn Văn Thái (), Cổ Nham Phổ Tựu (), Tức Am Nghĩa Nhượng (), Thuần Chuyết Văn Tài (), Ngưng Nhiên Liễu Cải (), Câu Không Khế Bân (), Huyễn Hưu Thường Nhuận (), Vô Ngôn Chánh Đạo (), Tâm Duyệt Tuệ Hỷ (), v.v. Sau đó vào năm 1735, vua Thế Tông (, tại vị 1722-1735) nhà Thanh lại cho trùng tu chùa. Hiện tại, quần thể kiến trúc chùa có Sơn Môn, Thiên Vương Điện, Đại Hùng Điện, Bạt Đà Điện, Diêm Vương Điện, v.v. Ở bên phải phía Tây chùa có tảng đá Diện Bích của Đại Sư Đạt Ma; tại địa điểm cách chùa 3 dặm có Am Diện Bích. Trong khuôn viên chùa có rất nhiều ngôi tháp, văn bia của các vị vua của nhiều triều đại, cũng như của bao nhân vật nổi tiếng ngày xưa.