Thiếp

《帖》 tiē

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: một loại danh thiếp dùng để đáp lễ qua lại trong ứng xử hằng ngày, như Thỉnh Thiếp (, thiệp mời), Tạ Thiếp (, thiệp cám ơn), v.v. Có một số loại Thiếp thông dụng như: (1) Báo Thiếp (), là loại thiệp dùng để thông báo; như trong Kinh Bản Thông Tục Tiểu Thuyết (), phần Bồ Tát Man () có câu: “Kính đáo Tây Sơn Linh Ẩn Tự, tiên hữu báo thiếp báo tri, Trưởng Lão dẫn chúng tăng minh chung lụy cổ, tiếp Quận Vương thượng điện Thiêu Hương (西殿, đến thẳng Tây Sơn Linh Ẩn Tự, có thiệp thông báo trước, nên Trưởng Lão dẫn chúng tăng đánh chuông gióng trống, tiếp đón Quận Vương lên Chánh Điện dâng hương).” (2) Thỉnh Thiếp (), thiệp dùng để cung thỉnh hay mời ai đó đến tham dự buổi lễ hay yến tiệc, v.v. (3) Tạ Thiếp (), thiệp bày tỏ sự tri ân sau khi đã hoàn thành xong một việc nào đó. (4) Bát Tự Thiếp (), xưa kia khi bàn chuyện hôn nhân, cả hai nhà gái và trai đều dùng tấm thiệp viết 8 chữ ngày giờ sinh, trao đổi qua lại để xem thử có xung khắc thế nào không; còn gọi là Bát Tự Toàn Thiếp (), Canh Thiếp (). (5) Bái Thiếp (), thời xưa, đây là một tấm thiếp dùng thông báo đến thăm ai đó. Như trong tác phẩm Nghi Diệu (耀) quyển 4 của Trương Huyên () nhà Minh, phần Bái Thiếp Bất Cổ () có giải thích rằng: “Cổ nhân thư khải vãng lai, cập tánh danh tương thông, giai dĩ mộc trúc vi chi, sở vị thứ dã; chí Tống thời, Vương Kinh Công cư Bán Sơn Tự, mỗi dĩ kim tất mộc bản Tả Kinh thư Danh Mục, vãng tự tăng xứ tá kinh; thời nhân toại dĩ kim tất bản đại thư thiếp, dĩ nhi khủng hữu tuyên tiết, hựu tác lưỡng bản tương hợp, dĩ phiến chỉ phong kỳ tế; cửu chi, kỳ chế tiệm tinh; Kim Chi Bái Thiếp dụng chỉ, cái khởi vu Hy Ninh dã (, người xưa thư từ qua lại, đến nỗi tên họ biết rõ nhau, đều lấy thẻ tre để viết vào, gọi là thứ; cho đến thời nhà Tống, Vương Kinh Công [tức Vương An Thạch, 1021-1086] từng sống ở Bán Sơn Tự, cứ mỗi lần lấy bản gỗ bằng sơn mạ vàng chép Danh Mục kinh, đều qua chỗ chư tăng ở để mượn kinh; do đó người đương thời bèn lấy bản gỗ sơn mạ vàng thay thế để viết thiệp, xong rồi sợ bị truyền lan ra, lại làm thành hai bản giống nhau, lấy giấy phong kín ở đầu bìa; trãi qua thời gian lâu, sự chế tạo dần dần tinh xảo …, loại giấy dùng cho Bái Thiếp ngày nay, vốn xuất phát từ thời Hy Ninh [1068-1077]).” (6) Báo Tang Thiếp () là tấm thiệp dùng trong tang lễ ngày xưa để thông báo cho bà con, Thân Hữu biết có người đã từ trần; khác với bản Cáo Phó. (7) Bảng Thiếp (, ) là tấm cáo thị để chiêu dụ bá tánh, hay là bảng niêm yết danh tánh của các thí sinh thi đỗ. Như trong bài Từ Tương Châu Bi () của Lý Chất () nhà Đường có câu: “Tê Bảng Thiếp tiên chí Giang Tây, an tồn bá tánh (西, trước hết mang tấm Bảng Thiếp đến Giang Tây để làm yên lòng bá tánh).” Trong Công Văn Đàn Tràng, một số Thiếp được dùng như Tịnh Trù Thiếp (), Cấp Thủy Thiếp (), Tứ Sanh Lục Đạo Thiếp (), Tam Bảo Thiếp (), v.v.