Thị Tịch

《示寂》 shì jì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: ý dịch của từ nirvāṇa (s.), nibbāna (p.), tức chỉ Niết Bàn; còn gọi là Viên Tịch (), quy tịch (), nhập tịch (), Tịch Diệt (), tịch (). Đây là từ đặc biệt dùng cho việc Thị Hiện Niết Bàn, xả Báo Thân của chư Phật, Bồ Tát, Cao Tăng. Trong các thư tịch Phật Giáo, thuật ngữ này xuất hiện khá nhiều, như trong Thiền Đăng Thế Phổ (, Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1601) quyển 9, phần Thạch Đầu Hy Thiên (), có đoạn: “Đường Đức Tông Trinh Nguyên lục niên Canh Ngọ Thị Tịch, thụy Vô Tế, tháp viết Kiến Tướng (, sư Thị Tịch vào canh ngọ, Trinh Nguyên thứ 6 [790] đời vua Đức Tông [tại vị 779-805] nhà Đường, Thụy Hiệu là Vô Tế, tháp tên là Kiến Tướng).” Hay trong Phật Pháp Kim Thang Biên (, Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1628) quyển 4, phần Võ Đế (), lại có đoạn: “Thập tam niên, Bảo Chí tương Thị Tịch, nghệ nội điện biệt đế, đế Đại Kinh (殿, vào năm thứ 13 [514 niên hiệu Thiên Giám, đời vua Lương Võ Đế], Bảo Chí sắp Thị Tịch, bèn vào nội điện từ biệt nhà vua, vua vô cùng kinh ngạc).” Hoặc trong Tục Truyền Đăng Lục (, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 23, phần Hoàng Long Thanh Thiền Sư Pháp Từ (), Đông Kinh Thiên Ninh Trường Linh Thủ Trác Thiền Sư (), cũng có đoạn: “Tuyên Hòa ngũ niên thập nhị nguyệt nhị thập thất nhật yểm nhiên Thị Tịch, Xà Duy nhật Hoàng Đế khiển Trung Sứ tứ hương (使, vào ngày 27 tháng 12 năm Tuyên Hòa thứ 5 [1123], Thiền Sư đột nhiên Thị Tịch, ngày làm lễ Trà Tỳ [hỏa thiêu], Hoàng Đế [vua Huy Tông nhà Tống] sai Trung Sứ đến tặng hương).”