Thật Ngữ

《實語》 shí yǔ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm:Satya-vàda. Pàli:Sacca-vàda. Chỉ cho lời nói Chân Thật, không hư dối, không lập dị. Tức lời nói của Phật hoặc của người tu hành. Kinh Kim Cương Bát Nhã (Đại 8, 750 trung) ghi: Như Lai thị Chân Ngữ giả, Thực ngữ giả, Như Ngữ giả, Bất cuống ngữ giả, Bất dị ngữ giả (Như Lai là bậc nói lời Chân Thật, như thực không dối láo, không lập dị).Kinh Chúng tập trong Trường a hàm quyển 8, khi nói về 4 hạnh lành của miệng thì nêu Thực ngữ (Pàli:Musà-vàdì, lìa nói dối) với 3 thứ: Nhuyến ngữ(lời nói dịu dàng), Bất Ỷ Ngữ (không nói thêu dệt)Bất Lưỡng Thiệt(không nói 2 lưỡi). Kinh Thanh tịnh trong Trường a hàm quyển 12 thì nêu Thực ngữ (Pàli:Bhùta-vàdì) với 5 thứ: Ứng thời ngữ, Nghĩa ngữ, Lợi ngữ, Pháp Ngữ và Luật ngữ. Còn kinh Phạm động trong Trường a hàm quyển 14 nêu Thực ngữ chung với 5 thứ: Tri thời ngữ, Lợi ngữ, Pháp Ngữ, Luật ngữ và Chỉ phi ngữ(lời ngăn điều quấy). Về Thực ngữ, giữa Hiển giáo và Mật giáo chủ trương có hơi khác nhau. Hiển giáo cho rằng lời nói tương xứng với sự thật, việc làm đúng với lời nói và lời nói ứng hợp với việc làm, gọi là Thực ngữ. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí quyển 6 (Đại THỰC NGỮ 35, 229 hạ) ghi: Lời nói đúng với việc làm nên gọi là Thực ngữ. Mật giáo thì chủ trương lời nói dùng để nói về Chân Như là Thực ngữ, tức Như nghĩa ngữ thứ 5 trong 5 thứ ngữ nói trong luận Thích Ma Ha Diễn quyển 2. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 1 (Đại 39, 579 trung) nói: Chân Ngôn, tiếng Phạm là Mạn đát la, chính là âm của Chân Ngữ, Như Ngữ, Bất vọng bất dị ngữ. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q. 4., 14; kinh Chính Pháp Niệm Xứ Q. 54.; kinh Đại bảo tích Q. 79.; kinh Đại Phương Đẳng đại tập Q. 10.].