Thất Chúng Nịch Thủy

《七衆溺水》 qī zhòng nì shuǐ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Bảy chúng đắm chìm. Kinh Niết Bàn quyển 32 (bản Bắc) có nêu 7 ví dụ về 7 loại Chúng Sinh như sau:
1. Hạng người thứ nhất xuống nước, vì không biết bơi nên liền bị chìm; ví dụ cho Nhất Xiển Đề vào sông Sinh Tử liền bị chìm ngay.
2. Hạng người thứ 2 xuống nước, tuy bị chìm nhưng lại ngoi lên, ngoi lên rồi lại chìm; ví dụ cho hạng trời và người có lúc tiến lên, nhưng lại trở lui.
3. Hạng người thứ 3chìm rồi liền ngoi lên, ngoi lên rồi không bị chìm nữa; ví dụ cho hàng Nội Phàm đầy đủ 4 Thiện Căn: Noãn, Đính, Nhẫn, Thế Đệ Nhất Pháp, vĩnh viễn không bị rơi vào 3 đường ác nữa.
4. Hạng người thứ 4 xuống nước liền chìm, chìm rồi ngoi lên, ngoi lên liền dừng lại, quán sát khắp 4 phương; ví dụ cho hàng Thanh Văn.
5. Hạngngườithứ 5 xuống nước liền chìm, chìm rồi ngoi lên, ngoi lên liền dừng lại, dừng lại quán sát các phương, quán sát rồi đi; ví dụ cho hàng Duyên Giác.
6. Hạng người thứ 6xuống nước liền bơi đi, đến chỗ cạn thì dừng lại, ví dụ Bồ Tát.7. Hạng người thứ 7 bơi đến bờ kia, leo lên núi lớn, không còn sợ hãi, lìa các giặc oán, hưởng sự yên vui to lớn, ví dụ chư Phật.