Thanh Liên

《青蓮》 qīng lián

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: hoa sen xanh, từ ý dịch của Ưu Bát La (Sanskrit: utpala, Pāli: uppala ), hay Ô Bát La (), Âu Bát La (), Ưu Bát Lạt (), Ôn Bát La (); tên khoa học là Nymphaca tetragona. Bên cạnh đó, nếu thêm tính từ nīla vào, ta có loại hoa sen xanh khác tên nīlotpala (Nê Lô Bát La [], loại hoa của Bồ Tát Văn Thù [s: Mañjuśrī, ) hay cầm). Pháp Hoa Huyền Tán () quyển 1 ghi rằng: “Ôn Bát La hoa vi Thanh Liên hoa (, Ôn Bát La hoa là hoa sen xanh)”. Huyền Ứng Âm Nghĩa () quyển 3 gọi loại hoa này là Đại Hoa (, hoa xanh đậm). Đại Nhật Kinh Sớ () quyển 15 cho biết loài hoa này có hai màu: đỏ và trắng; bên cạnh đó còn có loại không đỏ không trắng, hình như hoa Nê Lô Bát La. Do đó, phần lớn hoa Ưu Bát La được xem là có màu xanh, hơn nữa màu này rất nổi bật và khác lạ. Lý Bạch (, 701-762), đại thi hào theo chủ nghĩa lãng mạn, sống dưới thời nhà Đường, cũng có hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ (). Trong bài Túc Long Hưng Tự (宿) của Kì Vô Tiềm (, 691-756) nhà Đường có câu: “Hương Sát dạ vong quy, tùng thanh cổ điện bài, Đăng Minh Phương Trượng thất, châu hệ Tỳ Kheo y, bạch Nhật Truyền tâm tĩnh, Thanh Liên dụ pháp vi, thiên hoa lạc bất tận, xứ cứ điểu hàm phi (殿, hương ngát đêm quên về, tùng xanh cửa điện xưa, đèn sáng Phương Trượng thất, châu buộc Tỳ Kheo y, ban ngày truyền tâm lắng, sen xanh dụ pháp quy, hoa trời rơi bất tận, chốn chốn chim tha đi).”