Thành Hoàng

《城隍》 chéng huáng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có hai nghĩa khác nhau. (1) Đường hào bảo vệ chung quanh thành quách. Từ Thành Hoàng được tìm thấy đầu tiên trong thư tịch Dịch Kinh (), phần Thái Quái (): “Thành phục ư hoàng (, thành lại ở trong hào).” Thuyết Văn Giải Tự () giải thích rằng: “Thành, dĩ thạnh dân chi (, thành trì để bảo vệ dân)” và “Hoàng, thành trì dã (, hoàng là cái hào bảo vệ thành)”, hay “vô thủy viết hoàng (, nơi không có nước gọi là hoàng).” Như vậy, theo nghĩa xa xưa, từ Thành Hoàng là con sông, cái hào bảo vệ thành quách. Nhân đó, Ban Cố có đoạn văn rằng: “Tu cung thất, tuấn Thành Hoàng (, sửa cung thất, đào hào thành).” (2) Tên gọi của vị thần bảo vệ thành trì hay quốc gia, hộ trì dân chúng. Với tư cách là vị thần, từ Thành Hoàng được tìm thấy đầu tiên trong Bắc Tề Thư (), Truyện Mộ Dung Nghiễm (): “Thành trung tiên hữu thần từ nhất sở, tục hiệu Thành Hoàng Thần, công tư mỗi hữu Kỳ Đảo (, trong thành có một chỗ thờ thần, Thế Gian thường gọi là Thần Thành Hoàng, công tư mỗi người đều có cầu nguyện).” Sau thời Tùy Đường (, 581-907), việc Sùng Bái Thành Hoàng bắt đầu lưu hành rộng rãi. Trong điều Tuyên Châu Ty Hộ () của Thái Bình Quảng Ký () gọi Thành Hoàng là úy quỷ (, quỷ sợ), cho nên nhận xét rằng: “Mỗi châu huyện tất hữu Thần Thành Hoàng (, mỗi châu huyện đều có Thần Thành Hoàng).” Đến thời Ngũ Đại (, 907-960), Thần Thành Hoàng đã được sắc phong. Tỷ dụ như Thần Thành Hoàng ở Hàng Châu () được phong là Thuận Nghĩa Bảo Ninh Vương (), ở Hồ Châu () là Phụ Tục An Thành Vương (), ở Mông Châu () là Linh Cảm Vương (), v.v. Dưới thời nhà Tống (, 960-1127), việc Sùng Bái Thành Hoàng trở thành tế điển quốc gia. Như trong Tân Thối Lục (退) của Triệu Dữ Thời (, ?-?) có đoạn rằng: “Kim kỳ tự cơ biến thiên hạ, triều gia hoặc tứ miếu ngạch, hoặc ban phong tước, vị Danh Giả hoặc tập lân quận chi xưng, hoặc thừa lưu tục sở truyền, quận dị nhi huyện bất đồng (, ngày nay việc cúng tế Thành Hoàng cùng khắp thiên hạ, triều đình hoặc ban ngạch cho miếu vũ, hay ban phong tước; nơi nào chưa có tên thì hoặc lấy theo tên gọi của quận lân bang, hay theo truyền thuyết lưu truyền ngoài đời, quận khác mà huyện chẳng giống).” Kế thừa nhà Tống đến thời nhà Nguyên (, 1206-1368), khắp nơi từ trong triều nội cho đến ngoài dân dã đều có thiết lập miếu thời Thần Thành Hoàng; vị thần ở kinh đô được tôn xưng là Hựu Thánh Vương (). Đến thời nhà Minh (, 1368-1662), Tín Ngưỡng Sùng Bái Thành Hoàng trở nên cực thịnh. Vào năm thứ 2 (1369) niên hiệu Hồng Võ (), vua Minh Thái Tổ (, tại vị 1368-1398), phong cho Thành Hoàng ở kinh đô là Thừa Thiên Giám Quốc Ty Dân Thăng Phước Minh Linh Vương (), phong cho Thành Hoàng ở Khai Phong (), Lâm Hào (), Thái Bình (), Hòa Châu (), Trừ Châu () là Chánh Nhất Phẩm (); cho Thành Hoàng ở các phủ khác là Chánh Nhị Phẩm (); cho Thành Hoàng ở các châu là Chánh Tam Phẩm (); cho Thành Hoàng ở các huyện là Hiển Hựu Bá (), Tứ Phẩm (). Chức trách của Thần Thành Hoàng chủ yếu bảo hộ bá tánh trong thành được an toàn, sức khỏe, cũng như giám sát công lao các quan viên trên cõi thế, thay Trời trị ác trừ hung, hộ trì quốc gia, phán quyết việc sống chết, ban việc phước thọ cho con người. Trong phần Quần Tự Khảo () của tác phẩm Tục Văn Hiến Thông Khảo () có dẫn lời của Minh Thái Tổ rằng: “Trẫm thiết Kinh Sư Thành Hoàng, tỷ thống các Phủ Châu Huyện chi thần, dĩ giám sát dân chi Thiện Ác nhi họa phước chi (, Trẫm thiết lập Thần Thành Hoàng ở kinh đô để thống lãnh chư vị thần ở các Phủ Châu Huyện, để giám sát việc tốt xấu của muôn dân mà ban cho họa phước).” Về việc cúng tế Thần Thành Hoàng, theo Chư Thần Thánh Đản Nhật Ngọc Hạp Ký (), nhà Minh quy định ngày 11 tháng 5 Âm Lịch là ngày đản sinh của Thành Hoàng. Tuy nhiên, do vì Thành Hoàng ở các địa phương có công với người dân, nên ngày đản sinh cũng có khác nhau. Tại Việt Nam, Tín Ngưỡng Thành Hoàng cũng đã thịnh hành từ xa xưa. Giống như Táo Công và Thổ Công, Thành Hoàng cai quản và Quyết Định họa phúc của một làng và thường được thờ ở đình làng. Sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam, tục thờ Thành Hoàng đã nhanh chóng bám rễ vào trong Tâm Thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn.” Ngài là vị thần tối linh, có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Thành Hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tùy theo sự tích mỗi vùng. Ngài có thể là một vị thần như Phù Đổng Thiên Vương, thần núi như Tản Viên Sơn Thần, thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng, v.v. Hay có khi là các yêu thần, tà thần, v.v., với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý. Tuy nhiên, có khi Thành Hoàng chỉ là một người dân mà theo quan niệm, là người được các vị thần ban cho sứ mệnh để sau này thay họ cai quản làng xã, được gọi là Thành Hoàng sống. Truyền thống Tín Ngưỡng, cúng tế Thành Hoàng đã thật sự bám sâu vào gốc rễ tâm linh, văn hóa của người dân Việt, như trong tập truyện ngắn Cái Ve của Khái Hưng (1896-1947) có câu chuyện Tế Thành Hoàng: “Người ta đồn ông Thành Hoàng làng Tiền thiêng lắm. Mỗi lần rước Ngài là một lần vất vả khổ sở cho dân Ngài: nào Ngài bay, nào Ngài lùi, nào Ngài quay, có khi Ngài lại đứng ỳ ra nữa. Các quan viên tha hồ xuýt xoa van lạy, khấn khứa ngài đủ các câu, Ngài vẫn làm ngơ Như Không nghe thấy gì hết. Những lúc ấy nếu không đốt một tràng pháo thật dài để mừng Ngài, thì khó lòng Ngài chịu đi cho. Thế mà năm nào ra giêng vào đám, vẫn hai lượt dân làng Tiền phải rước Ngài, một lượt từ miếu ra đình để ngài chứng kiến việc hội họp ăn uống, và một lượt từ đình trở về miếu để Ngài an nghỉ. Khó khăn nhất, mệt nhọc nhất cho bọn khiêng kiệu là quãng đường qua đình Tràng. Ngài nô giỡn, Ngài chạy cuồng, Ngài nhảy cẫng như vui thích khoái trá về một điều gì. Người ta nói vì đức Thánh Đình Tràng là một vị nữ thần mà Ngài nghịch ngợm thích trêu ghẹo chơi. Dân làng Tiền cũng không ai phàn nàn về cái thiêng của Ngài. Trái lại, người ta còn lấy làm hãnh diện được thờ một vị thần mà khắp vùng đều kinh sợ. Không phải sợ bóng sợ vía, nhưng sợ những sự tác oai hiển hiện trước mắt. Một lần, một đứa trẻ chăn trâu trèo lên cây muỗm trước miếu, đã bị Ngài quật ngã chết tươi. Lại một lần một con bé bế em đi xem rước giơ tay chỉ trỏ kiệu Ngài, bị Ngài hành cho một trận ốm thập tử Nhất Sinh…”