Thái Thốc

《太簇、太蔟、泰簇》 tài cù tài cù tài cù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: còn gọi là Thái Tộc (), Đại Tộc (), Đại Thốc (), có hai nghĩa chính. (1) Tên gọi âm thứ 2 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Bình Điệu (調, hyōjō) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong chương Thời Tắc Huấn () của Hoài Nam Tử () có giải thích rằng: “Luật trung Thái Thốc, kỳ số bát (, âm Thái Thốc trong các luật âm, số của nó là 8).” Trong tác phẩm Đáp Lưu Bá Thằng Vấn Luật Lữ () của Hoàng Tông Hi (, 1610-1695) nhà Thanh còn giải thích thêm: “Thái Thốc trường bát thốn, tích lục bách tứ thập bát phần (, Thái Thốc dài tám tấc, chứa 648 phân).” (2) Người xưa lấy 12 âm luật phối hợp với 12 tháng trong năm; Thái Thốc được phối hợp với tháng Giêng; nên đây là tên gọi khác của tháng Giêng. Như trong Lã Thị Xuân Thu (), chương Âm Luật () có câu: “Thái Thốc chi nguyệt, dương khí thỉ sanh, Thảo Mộc phồn động (, tháng Thái Thốc, khí dương bắt đầu sinh, cỏ cây nảy nở nhiều).” Cao Dụ (, ?-?) nhà Đông Hán (, 25-220) chú thích rằng: “Thái Thốc, chánh nguyệt (, Thái Thốc là tháng Giêng).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa(, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 cũng cho biết rằng: “Chánh nguyệt kiến Dần, viết Nhiếp Đề Cách, hựu viết Thái Thốc, hựu viết Mạnh Tưu (, tháng Giêng kiến Dần, gọi là Nhiếp Đề Cách, lại có tên là Thái Thốc, hay gọi là Mạnh Tưu).” Trong Nhạc Điển () quyển 143 có giải thích thêm về Thái Thốc rằng: “Dần vi Thái Thốc, Chánh nguyệt chi thần danh Dần; Dần giả, tân dã; Tân giả đồ chi nghĩa; Chánh nguyệt chi thời, sanh vạn vật chi tân đồ, cố vị chi Dần (, Dần là Thái Thốc, chi của tháng Giêng là Dần; Dần là tân; tân nghĩa là con đường; vào dịp tháng Giêng, mở ra con đường cho vạn vật, nên gọi đó là Dần).” Hay trong Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn Thích Yếu (, Tục Tạng Kinh Vol. 55, No. 905) quyển 1 có câu: “Đạo Quang lục niên nguyệt tại Thái Thốc nhân nhật Bí Sô Ni Ngộ Đức Thông Viên thư ư Hiếu Viên Am chi Ma Ha Diễn Thất (, ngày mồng 7 tháng Giêng năm thứ 6 [1826] niên hiệu Đạo Quang nhà Thanh, Tỳ Kheo Ni Ngộ Đức Thông Viên viết tại Ma Ha Diễn Thất của Hiếu Viên Am).”