Tha Tỉ Lượng
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Paràrthànumàna. Cũng gọi Tha tỷ, Vi tha tỷ lượng. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Tức là Lượng(luận thức) được thành lập theo pháp Tha Hứa(sự đồng ý của người vấn nạn), 1 trong 3 Tỷ lượng của Nhân Minh. Y cứ vào Tự tỷ lượng mà biết 1 cách chính xác về nghĩa do chính mình (người lập luận) lập ra, lại nhằm phá đổ nghĩa do người khác thành lập mà dùng pháp được người vấn nạn đồng ý để lập Lượng thì gọi là Tha tỷ lượng. Khi lập Tha tỷ lượng thì trong Tông(mệnh đề) phải dùng từ ngữ Phân Biệt như Ông chấp rằng, ông cho rằng... . Tha tỷ lượng lại được chia nhỏ thành 3 loại khác nhau là Tha, Tự, Cộng. Trong đối luận, mỗi loại đều có qui định khác nhau:
1. Pháp Tha trong Tha tỷ lượng: Trong 3 chi Tông, Nhân (lí do), Dụ (Thí Dụ) đều dùng pháp Tha Hứa.
2. Pháp Tự trong Tha tỷ lượng: Trong 3 chi thì Tông dùng pháp Tha Hứa, còn Nhân và Dụ thì dùng pháp tự hứa (mình đồng ý).
3. Pháp Cộng trong Tha tỷ lượng: Tông và Dụ dùng pháp Tha Hứa, Dùng pháp Cộng hứa (cả đôi bên cùng thừa nhận). [X. Nhân Minh Luận sớ thụy nguyên kí; Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận nghĩa toản yếu]. (xt. Tam Tỷ Lượng, Tự Tỷ Lượng).
1. Pháp Tha trong Tha tỷ lượng: Trong 3 chi Tông, Nhân (lí do), Dụ (Thí Dụ) đều dùng pháp Tha Hứa.
2. Pháp Tự trong Tha tỷ lượng: Trong 3 chi thì Tông dùng pháp Tha Hứa, còn Nhân và Dụ thì dùng pháp tự hứa (mình đồng ý).
3. Pháp Cộng trong Tha tỷ lượng: Tông và Dụ dùng pháp Tha Hứa, Dùng pháp Cộng hứa (cả đôi bên cùng thừa nhận). [X. Nhân Minh Luận sớ thụy nguyên kí; Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận nghĩa toản yếu]. (xt. Tam Tỷ Lượng, Tự Tỷ Lượng).