Tế Tỉnh

《際醒》 jì xǐng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

(1741-1810) Cao Tăng Trung Quốc sống vào đời Thanh, là Tổ thứ 12 của Liên Tông, người ở Phong nhuận, Tỉnh Hà bắc, họ Mã, tự Triệt ngộ, Nột đường, hiệu Mộng đông. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, tinh thông kinh sử, năm 22 tuổi, nhân lâm bệnh mà sư thể ngộ được lẽ vô thường của kiếp người, bèn đến ngài Vinh trì ở am Tam thánh tại Hà bắc cầu Xuất Gia, năm sau Thụ Giới Cụ Túc ở chùa Tụ vân. Sau đó, sư lần lượt tham yết ngài Long nhất chùa Hương Giới, ngài Tuệ ngạn chùa Tăng thọ, ngài Biến không chùa Tâm Hoa, ngài Túy như chùa Quảng đông... học tất cả yếu chỉ tính, tướng như: Viên Giác, Pháp hoa, Lăng nghiêm, Kim Cương, Duy Thức... Sau, sư ngộ được Thiền chỉ và nối pháp ngài Túy như. Về sau, khi ngài Túy như dời đến trụ trì chùa Vạn thọ, sư kế nhiệm trụ trì chùa Quảng thông, xiển dương tông Phong Thiền Tịnh Song Tu. Năm Gia khánh thứ 5 (1800), sư lui về ở ẩn tại chùa Tư phúc núi Hồng loa (tỉnh Liêu ninh), chuyên giảng thuyết Tịnh Độ, khuyên người Niệm Phật, được người đời gọi là Hồng loa Triệt ngộ. Người được sư giáo hóa rất nhiều, khắp cả Bắc nam. N ă m G i a khánh 15 (1810), tháng Chạp, sư biết giờ Lâm Chung đã đến, liền nhóm chúng Niệm PhậtThị Tịch, thọ 70 tuổi, 49 tuổi đạo. Sư có các tác phẩm: Niệm Phật già đà, Triệt Ngộ ThiềnNgữ Lục. [X. Triệt Ngộ Thiền sư hành lược].